|
Chúng tôi học tiếng Mông
Lớp dạy chữ và tiếng Mông do Ban Dân tộc, Sở Nội vụ, Sở
GD - ĐT tỉnh phối hợp tổ chức, với thời gian học 3
tháng, đã để lại cho chúng tôi những kỷ niệm đẹp về tình
thầy trò, bè bạn cùng những bài học quý về thái độ trân
trọng, biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Hát ống. Ảnh: Hùng Hiền
Ngôn ngữ Mông thật phong phú. Tiếng Việt có khái niệm gì
thì gần như tiếng Mông cũng có, thậm chí có những khái
niệm tiếng Việt không có nhưng tiếng Mông lại có. Chính
nhờ sự giao lưu, ảnh hưởng đa chiều với các ngôn ngữ
khác, trực tiếp và mạnh nhất với tiếng Việt, tiếng Hán,
ngôn ngữ Mông, đã phát triển rực rỡ so với bản thể ban
đầu.
Thầy giáo Hùng Đình Quý, “cây từ điển sống”, nhà Mông
học xuất sắc của Hà Giang với vốn hiểu biết phong phú,
uyên thâm về dân tộc mình đã nhiệt tình giảng giải cho
các học viên những cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ, chữ
viết, phong tục, tập quán Mông. Mỗi bài giảng của thầy
thực sự là một cánh cửa rộng mở vào “thế giới Mông” kỳ
vĩ, huyền thoại, thế giới của dân ca, truyền thuyết vời
vợi như những đỉnh non ngàn. Những bài văn, bài tập đọc
thầy dạy đều là những câu chuyện hấp dẫn kể về lịch sử
bi tráng của người Mông, về niềm tin, niềm tự hào của
đồng bào đối với Đảng, với Bác Hồ. Được học chữ, học
tiếng Mông ở thầy, chúng tôi lại được thầy hun đúc về
thái độ trân trọng đối với các di sản lịch sử, văn hoá
của dân tộc.
Thầy Vàng Chẩn Giáo – Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh - một
người quảng giao, yêu ca hát. Thầy là người có công
trong việc nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn giáo trình dạy
chữ và tiếng Mông của tỉnh. Cuốn sách dày gần 220 trang
với những bài tập đọc thật hay và tương đối dễ học như
bài “Đêx đăngs” (Sông Lô), “Nênhs uô jos” njiz txir hlor
Hox” (“Người làm thuê” được gặp Bác Hồ), “Yez tuôv” (Xe
đạp) v.v…Thầy Giáo còn kỳ công biên soạn cho chúng tôi
“bộ từ điển” tập hợp những từ phổ cập, hay dùng nhất kèm
theo bản dịch chuẩn 3 bài hát: “Bài ca trên núi” (Nguyễn
Văn Thương), “Người Mèo ơn Đảng” (Thanh Phúc) và “Người
Mèo ơn Đảng” (Sùng Thị Mai). Có được những “bảo bối”
này, cả lớp tự tin hơn khi giao lưu, gặp gỡ với đồng bào
trong chuyến đi dã ngoại cuối khoá.
Thầy Hùng Đại Kỳ là con trai út của thầy Quý, hiện làm
việc tại Sở VH - TT & DL tỉnh. Mười lăm năm trước, thầy
học tôi về quay phim vi-đê-ô, sau tham gia đoàn làm phim
truyện “Chiếc vòng bạc cuối cùng” (1998), còn bây giờ,
tôi lại học thầy chữ Mông, tiếng Mông. Người học tiếng
Mông “ngại” nhất khi gặp các phụ âm kép, những câu đảo
dấu hoặc có phần trung tâm ngữ được đặt trước định ngữ
(như học tiếng Trung). Thầy Kỳ tận tình hướng dẫn mọi
người cách phát âm những từ khó, làm quen với các trật
tự đảo câu “quái chiêu”. Thầy cũng là người yêu văn
nghệ, cởi mở, thân thiện.
Đến với những lớp học tại chức như thế này, mỗi người
đều có hoàn cảnh, thuận lợi, khó khăn riêng nhưng tất cả
đều chung một suy nghĩ là cần phải biết tiếng và chữ
Mông vì đó là chiếc “chìa khoá” mầu nhiệm giúp tiếp cận
“tới bờ”, “tới góc” với cái “kho tàng văn hoá” có quá
nhiều dấu ấn phát triển đặc biệt như văn hoá Mông. Chả
thế mà Bùi Quốc Hải, người được mệnh danh có biệt tài
“tra từ điển Mông” nhanh nhất lớp nói với tôi: “Tiếng
Mông hỗ trợ tốt cho công việc Hải đang làm ở cơ quan Mặt
trận tỉnh!”. Nguyễn Văn Lượng (Sở Tư pháp Hà Giang) công
nhận: “Trong những chuyến đi trợ giúp pháp lý ở vùng
cao, nếu người tư vấn biết một chút xíu tiếng Mông, công
việc cũng hiệu quả hơn!”. Cùng chung suy nghĩ với Lượng,
hai cô học trò trẻ nhất lớp là Nguyễn Thị Quế (sinh năm
1984), Vũ Thị Hiền (sinh năm 1983) công tác ở Bệnh viện
Lao và Phổi tỉnh thì kể về những chuyện “dở khóc, dở
cười” khi nhân viên y tế gặp gỡ, thăm khám cho bệnh nhân
là người dân tộc. Thầy thuốc dặn dò phải làm thế này
nhưng bà con lại làm khác, chung quy cũng là do “bất
đồng ngôn ngữ”. Nguyễn Văn Dũng (Sở LĐ-TB & XH tỉnh) thì
tâm sự, Trung tâm BTXH của anh được tỉnh giao nhiệm vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng người già cả, cô đơn, trẻ mồ côi,
không nơi nương tựa. Để làm tốt công việc, anh chị em
phải thường xuyên gần gũi, tìm hiểu tâm tư, tính cách
của từng đối tượng. “Trong một số trường hợp, nếu dùng
tiếng Việt, hai bên rất khó cởi mở. Tiếng Mông trở thành
giải pháp giao tiếp thân thiện!” – Dũng nói. Một học
viên thông minh, chịu khó phát biểu ý kiến, có năng
khiếu văn nghệ, chan hoà, gần gũi với mọi người, được
bạn bè trong lớp tín nhiệm đó là Lý Thị Hà, thành viên
của Hội đồng Giáo dục dân tộc (Sở GD-ĐT tỉnh). Hà quan
niệm “việc học là việc suốt đời”, “muộn còn hơn không”.
Cô học tiếng Mông chăm chỉ và còn có “kế hoạch” rèn
luyện, bổ túc thêm “vốn liếng” sau khi khoá học này kết
thúc. Mới rồi, Hà khoe, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân,
trong lần lên thăm Hà Giang đầu tháng 9/2009 đã tặng các
em học sinh vùng cao một món quà đặc biệt. Đó là những
cuốn sách học vần tiếng Mông lớp 1. Sách in đẹp, lại có
nhiều hình ảnh minh họa sinh động. Năm học 2009 – 2010
đến, thầy và trò ở nhiều trường rất vui...
Chia tay lớp học tiếng Mông khóa 4, chúng tôi không quên
những người bạn đã cộng đồng giúp đỡ, động viên nhau
vượt khó học tập. Cảm ơn Ban tổ chức lớp học, cảm ơn Sầm
Thị Dương, cô gái Nùng có nụ cười và gương mặt dễ
thương, phúc hậu đã đồng hành cùng cả lớp suốt ba tháng
trời. Lời dặn dò chu đáo của cô về thời khoá biểu khiến
một người hay đãng trí như tôi không thể quên lịch học,
đã đi học đúng giờ và chỉ nghỉ đúng một buổi.
Yên Sơn |