|
Xuân trên đất
mỏ
Nguyễn Mạnh Hùng
Hàng chục khuôn mặt lọ lem trong bộ quần áo xanh công
nhân, đầu đội mũ bảo hộ, chân đi giầy, tất gọn gàng đang
hí húi bên chiếc lò luyện mới xây, tất cả họ đều vội
vàng xây, vội vàng đắp lò tưởng như tranh cướp chút thời
gian còn lại trong năm cũ để đón Tết mới. Kỹ sư Phạm Văn
Tuấn, Quản đốc phân xưởng luyện Ăng-ti-mon Mậu Duệ (Yên
Minh) thuộc Công ty Cổ phần Cơ khí và khoáng sản Hà
Giang, cũng như bao công nhân khác bắt tay tôi, chỉ thấy
rõ nhất “đôi mắt” cười: “...

Nhà máy luyện Ăng ti mon Mậu Duệ
Nghề mỏ, hầm lò là thế đấy, toàn than, bụi lấm lem”.
Biết anh Tuấn nhiều năm trụ tại xưởng luyện gắn bó với
nhà máy từ trước, tới nay năm nào cũng “kịch Tết” mới
tạm dời vị trí chỉ huy về quê với vợ con mãi Vĩnh Phúc,
tôi đùa: “Anh làm vừa thôi kẻo com cóp cho các... “dì”,
mãi mà chưa về thăm vợ, con nó bảo bố thiếu tinh thần
trách nhiệm nuôi dưỡng là anh em tôi “thụi” cho đấy”.
Lúc này, bất chợt Kỹ sư Đào Văn Cảnh, Quản đốc phân
xưởng khai thác, bốc xếp trên mỏ xuất hiện chen vào:
“... Ông Tuấn bọn tôi trông tướng thế mà sợ... đủ đường,
nhất là các “bà dì” đấy”. Một trận pháo cười tưởng nổ
bung cả một vùng mỏ đang hối hả bốc xếp, hối hả tôi
luyện, để cho ra những tấn A-H đạt 99,98% Sb xuất khẩu
ra thế giới, thu về ngoại tệ mạnh cho đất nước, làm giàu
cho người lao động và đóng góp tích cực vào ngân sách
tỉnh nhà giúp xóa đói, giảm nghèo tại địa phương nơi đơn
vị đóng chân. Trao đổi với công nhân xưởng luyện, anh
Nguyễn Đình Luân, người gốc xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh,
Luân cho biết: Anh em xã Mậu Duệ vào làm công nhân tại
nhà máy nay chiếm gần 50% số công nhân đang làm việc tại
2 phân xưởng của khu mỏ, tổng số có 168 người. Trong 50%
ấy sau nhiều năm gắn bó với nhà máy đều đã có tiền mua
đất, làm nhà, sắm xe máy, phương tiện nghe nhìn và đều
có cuộc sống ổn định. Theo Luân, thu nhập bình quân mỗi
người bạn làm cùng anh là 3,5 – 4 triệu
đồng/người/tháng. Hàng năm còn được bình xét thưởng công
A, công B. Như năm 2008 thưởng công A là 20 triệu
đồng/người. Tính mỗi năm vào nhà máy, mỗi công nhân thu
nhập từ 40 – 50 triệu đồng, số tiền trên trừ ăn, uống
vẫn còn tích lũy để mua sắm, dự phòng. Luân cho biết:
Tại xưởng luyện không khí áp Tết càng rộn rã hơn mỗi
ngày 3 ca đều đặn. Riêng ca 3 có ăn thêm trong đêm vào
lúc 3 giờ sáng, bữa ăn đêm được bố trí như bữa ăn chính
trong ngày để tạo thêm sức khỏe dẻo dai, nuôi sức cho
ngày hôm sau. Mình Luân làm việc tại đây đủ tiền nuôi
vợ, 2 con, mua đất, làm nhà mới, sắm đủ tiện nghi rồi,
Luân mời ra chơi sau tan tầm, uống rượu ngô, đón năm mới
luôn thể. Nói về công việc, anh Tuấn, Quản đốc xưởng
luyện cho biết: Tuy suy thoái kinh tế, nhưng nhà máy,
xưởng khai thác, xưởng luyện vẫn không hề nghỉ ngày nào.
Năng lực khai thác, cũng như luyện Ăng-ti-mon năm 2009
đạt trên 600 tấn A-H, tăng cao hơn năm trước đó. Đặc
biệt, năm qua xưởng luyện đã tự xây thêm 1 lò mới có
công suất 15 tấn A-H/mẻ dùng để luyện tận thu quặng còn
lại trong xỉ quặng những năm trước đó dồn tồn để lại.
Chiếc lò mới do anh em trong xưởng tự thiết kế, tự xây
dựng, vật liệu trong nước sẵn có, không phải phụ thuộc
vào chuyên gia Trung Quốc như trước nữa.

Công nhân phân xưởng khai thác ăng-ti-mon (Mậu Duệ) đang
nhặt, chọn quặng.
Niềm vui như được nhân lên bởi lòng tự chủ học hỏi của
đội ngũ công nhân nhà máy, cộng lẫn lòng tự hào, tự tôn
chính công sức, trí tuệ của những kỹ sư, người thợ lò
trên cao nguyên đá làm tôi xúc động. Thì ra ở đâu có lao
động là ở đó có sáng tạo. Hơn thế, trong lúc khó khăn,
lúc gian khổ, thì tinh thần vượt khó, trí thông minh của
con người Việt Nam nói chung, người thợ lò tôi gặp ở đây
nói riêng lại càng sáng chói. Và đấy cũng chính là
truyền thống của dân tộc ta từ bao đời để lại nay đã lại
một lần nữa khẳng định chân lý ấy. Lúc trò chuyện với
anh em công nhân mới hay thêm một điều: Năm 2009, trong
lúc suy giảm kinh tế toàn cầu, mọi chi tiêu được thắt
chặt lại, những người thợ lò đã mạnh dạn áp dụng phương
pháp thiêu quặng mới bằng nguyên liệu than Kíp Lê từ mỏ
than Quảng Ninh, thay cho than Cốc phải nhập khẩu từ
Trung Quốc. Kỹ sư Phạm Văn Tuấn cho biết: Chỉ thêm, hoặc
bớt một số công đoạn, thao tác trong khi sử dụng nguyên
liệu đốt thiêu quặng bằng than Kíp Lê có sẵn trong nước,
thì chất lượng sản phẩm A-H vẫn không đổi. Hỏi thêm về
cách sử dụng than Kíp Lê thay than Cốc, Kỹ sư Tuấn cho
rằng đó là “bí quyết” công nghệ chưa có nơi nào áp dụng
thành công, kể cả đất nước sản xuất Ăng-ti-mon lớn nhất
toàn cầu là Trung Quốc. Mừng hơn là việc sử dụng than
Kíp Lê có sẵn trong nước vừa rẻ, lại vừa đỡ tốn nguyên
liệu. Anh Tuấn cho biết: Trước kia sử dụng than Cốc để
thiêu, luyện phải tiêu tốn 1,5 tấn than/tấn A-H. Nay sử
dụng than Kíp Lê chỉ tốn từ 1,3 – 1,35 tấn/tấn sản phẩm.
Đem so con số trên 600 tấn A-H thành phẩm mà trừ đi 1
tạ, đến 1,5 tạ than/tấn A-H, thì chi phí tiết kiệm đâu
phải nhỏ. Lớn hơn thế, chính là trí tuệ người thợ đã
được khẳng định vững chắc trong cả quá trình: Khai thác
– vận chuyển – tuyển luyện, thiêu đốt - để cho các sản
phẩm A-H chất lượng “vàng”. Đã có lần anh Ma Ngọc Tiến,
Chủ tịch HĐQT doanh nghiệp đã nói: Làm chủ công nghệ ắt
sẽ làm chủ tương lai của ngành khai khoáng. Chỉ tính
riêng sự đóng góp vào ngân sách tỉnh, mỗi năm nguồn thu
từ mỏ đóng góp trên dưới 10 tỷ đồng, nuôi sống trên 200
cán bộ, công nhân của Công ty Cổ phần Cơ khí và khoáng
sản Hà Giang, tạo việc làm cho gần 100 lao động thời vụ
thường xuyên tại Mậu Duệ. Theo Nghị quyết của Tỉnh ủy,
thì ngành Công nghiệp khai khoáng được đặt thành “trụ
cột” nay mai của nền kinh tế tỉnh nhà. Với tất cả những
gì người thợ trên đất mỏ Mậu Duệ hôm nay đã làm được,
thì chắc chắn họ sẽ làm nhiều hơn nữa để làm chủ công
nghệ, làm chủ đất nước, làm chủ cả nền công nghiệp to
lớn đã và đang phát triển tại Hà Giang. Tôi tin chắc là
thế. Chén rượu Xuân trong bữa cơm thường nhật như bao
ngày qua với những người thợ trên đất mỏ như xua tan
chút cuối cùng của ngày đông giá lạnh. Những cây đào
quanh mỏ chồi non đang nhú ra từ những cành cội xù sì.
Nụ đào tơ cũng bắt đầu hé mở đón những tia nắng hồng đầu
tiên... mùa Xuân.
Xuân 2010 |