|
Kết quả của ngành Y tế
sau một năm hoạt động
Trần đức Quý (Giám đốc Sở Y tế)
Năm
2009, mặc dù ngành Y tế Hà Giang đứng trước nhiều thách
thức lớn như thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, dịch
Cúm A(H1N1) bùng phát trên diện rộng, thành lập nhiều
đơn vị Y tế mới... song đội ngũ cán bộ ngành Y tế tỉnh
ta đã có nhiều cố gắng, đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu
để dần khắc phục được khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ
bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân các dân tộc.
Tuỳ từng nhiệm vụ và chức năng của mỗi đơn vị mà từng bộ
phận và mỗi cán bộ được phân công những nhiệm vụ khác
nhau. Năm 2009 ngành Y tế tỉnh nhà đạt vượt mức các chỉ
tiêu kế hoạch. Trước hết đó là tổ chức bộ máy Y tế được
thực hiện từng bước hoàn thành mô hình theo Nghị định 13
- 14 của Thủ tướng Chính phủ từ tuyến tỉnh đến tuyến xã.
Thực hiện theo mô hình này, hiện tại toàn ngành Y tế đã
có 441 bác sỹ (đạt 6,2 bác sỹ/10.000 dân) 99/195 xã có
bác sỹ về công tác. Các chương trình mục tiêu Y tế Quốc
gia đều đạt kết quả cao, công tác DS - KHHGĐ đã giảm tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên xuống 1,45%. Công tác tuyên
truyền, vận động mọi cấp, mọi ngành, tổ chức xã hội và
mọi người dân tham gia vào xã hội hoá công tác Y tế cũng
được ngành chú trọng, qua đó nhận thức của mọi người dân
về công tác này đã nâng lên rõ rệt; cơ sở hạ tầng phục
vụ công tác khám, chữa bệnh từ bệnh viện tuyến tỉnh đến
các trạm y tế xã cũng được nâng cấp với nhiều trang
thiết bị hiện đại.
Cùng đó, năm 2009 ngành tiếp tục cử cán bộ đi đào tạo
nâng cao tay nghề tại các đơn vị Y tế tuyến trên. Cán bộ
tuyến tỉnh được cử về học tập tại các bệnh viện tuyến
Trung ương, tuyến huyện được cử lên tuyến tỉnh. Hình
thức học tập đa dạng phù hợp với nhu cầu thực tế. Các
chuyên ngành đào tạo trên các lĩnh vực từ Y tế dự phòng,
chẩn đoán cận lâm sàng, nội ngoại khoa đến các phẫu
thuật phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên sâu. Cho nên,
nhiều KHKT mới đã được đưa vào triển khai tại các bệnh
viện từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện. Đây là những kỹ
thuật cao đòi hỏi trình độ chuyên môn chuyên sâu, tỷ mỉ,
cẩn thận của đội ngũ thầy thuốc và sự cung ứng đầy đủ
các trang thiết bị về máy móc. Việc ứng dụng các khoa
học kỹ thuật cao vào việc chẩn đoán và điều trị bệnh
nhân đã giảm bớt sự đau đớn cho bệnh nhân, giảm chi phí
chuyển tuyến, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh
của nhân dân. Đặc biệt là giải quyết được những khó khăn
trong công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo.
Bên cạnh các hoạt động trên, sau gần một năm triển khai
Đề án 1816, ngành Y tế Hà Giang đã đón hàng chục lượt
bác sỹ từ các bệnh viện đầu ngành tuyến Trung ương lên
hỗ trợ về chuyên môn và kỹ thuật cho đội ngũ thầy thuốc
của tỉnh. Cũng từ Đề án này, các đơn vị Y tế tuyến tỉnh
đã tổ chức hàng chục đoàn cán bộ y tế có chuyên môn về
hỗ trợ cho tuyến huyện, xã. Hàng tuần, các đơn vị y tế
đều có giao ban, đánh giá kết quả mà mỗi bác sỹ tăng
cường đến triển khai. Chính từ việc cụ thể hoá Đề án một
cách gần gũi, thiết thực mà mỗi cán bộ, mỗi đơn vị khi
tiếp nhận cán bộ luân phiên từ tuyến trên về tuyến dưới
hỗ trợ đều biết tận dụng tối đa thời gian, kiến thức để
học hỏi ngay trên từng buồng bệnh, từng bệnh nhân mà
mình phụ trách. Từ đó, việc triển khai Đề án đã mang
lại hiệu quả cao, chất lượng khám, chữa bệnh tại tuyến
cơ sở cũng được nâng lên rõ rệt. Các bệnh viện tuyến
huyện đã triển khai được các phẫu thuật, thủ thuật khó
trong cấp cứu, nội khoa, ngoại khoa. Tuyến tỉnh mở thêm
được các phòng khám chuyên khoa, chất lượng tay nghề của
cả điều dưỡng viên và bác sỹ tại từng khoa phòng cũng
được nâng lên rõ rệt. Việc triển khai Đề án 1816 tại
tỉnh ta đã tạo ra những bước chuyển biến tích cực trong
công tác khám, chữa bệnh, tạo được niềm tin cho người
bệnh và đồng bào nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Để tiếp tục phát huy hiệu quả đạt được, năm 2010 ngành Y
tế đặt ra nhiều giải pháp để thực hiện, đó là: Tiếp tục
hưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao y đức. Hoàn thiện, củng cố
và kiện toàn mạng lưới Y tế cơ sở, phấn đấu thường xuyên
có bác sỹ về xã, đưa dịch vụ kỹ thuật cao về tuyến y tế
cơ sở, đáp ứng tối đa nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân, đặc biệt là người nghèo, bệnh nhân nghèo tại các xã
vùng sâu, vùng cao trong tỉnh. Đào tạo nâng cao năng lực
quản lý cho cán bộ quản lý trong ngành Y tế. Đào tạo
chuyên môn cho các chuyên khoa còn thiếu và yếu, đặc
biệt là tại các tuyến huyện. Tăng cường đào tạo hệ cử
nhân điều dưỡng để từng bước đáp ứng với yêu cầu của
bệnh viện tuyến huyện theo sự phân tuyến của Bộ Y tế.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu Y
tế Quốc gia và các chương trình Y tế khác. Triển khai
các bước tiếp theo trong công tác nâng cao chất lượng
khám, chữa bệnh cho nhân dân, đảm bảo tính đồng bộ từ
tuyến tỉnh, huyện đến xã, thôn bằng việc triển khai các
kỹ thuật chuyên môn ở các cấp khác nhau với các trình độ
kỹ thuật ứng dụng phù hợp với nhân vật lực và thực tế
địa phương. Nâng cấp chất lượng hệ thống cận lâm sàng
giúp cho công tác chẩn đoán và điều trị được tiến hành
nhanh chóng, chính xác, giảm bệnh nhân chuyển tuyến. Đầu
tư nâng cấp các bệnh viện, trung tâm Y tế Dự phòng, trạm
Y tế xã. Tiếp tục triển khai Đề án 1816 có hiệu quả, có
chiều sâu. Tiếp nhận tối đa những kiến thức, kỹ thuật
hiện đại do các bác sỹ bệnh viện tuyến trên chuyển
giao./.
|