|
50 năm nhớ về đường Hà
Giang - Đồng Văn
Phạm Đình Dy (Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang)
Trước 1959, Hà Giang chỉ có 1 đoạn đường ô tô dài 80km
là đoạn cuối của Quốc lộ số 2.
Đầu 1958, tôi được điều động lên công tác ở Hà Giang.
Ngày đầu gặp Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Xã, ông đã hỏi
tôi lên Đồng Văn dốc đá đứng liệu có làm được đường ô tô
không?” Một lần ông bảo tôi cùng ông đi tìm đường vượt
dốc Quản Bạ. Chúng tôi bị lạc vào khu rừng già đến gần
nửa đêm mới được dân quân xã đốt đuốc tìm đưa về. Ngày
khai trương chặng đầu tiên: Thị xã Hà Giang - Làng Đán,
xã Quyết Tiến (Quản Bạ) dài trên 30 km, ông không cho tổ
chức ồn ào và động viên chúng tôi “Vượt được dốc Nghệ –
tức dốc Pác Xum – là thành công bước đầu, tôi tin các
anh sẽ vượt được các dốc còn lại”. ít lâu sau, ông rời
Hà Giang đi nhận nhiệm vụ khác.

Đường lên Cao nguyên đá.
Ảnh:
Lê
Lâm
Ngày đó, cán bộ ngành Giao thông còn ít lắm, công tác
khảo sát thiết kế của chúng tôi chỉ tập trung vào các
đoạn vượt đèo. Khi chuẩn bị làm đường Đồng Văn, tỉnh
cũng có mời 2 chuyên gia giao thông giúp xác định hướng
tuyến.
Tôi được giao nhiệm vụ về báo cáo tiến độ thi công với
UBHC Khu Việt Bắc, đồng chí Thanh Phong thay mặt Khu ủy
và ủy ban Hành chính khu quyết định thành lập ở 6 tỉnh
trong khu các đội thanh niên xung phong lên giúp Hà
Giang mở đường. Đây là 1 quyết định đảm bảo cho sự thành
công vì đã có một lực lượng thường xuyên nòng cốt thi
công các đoạn vách đá cao nguy hiểm.
Trên công trường đá lịch sử này, người dân vùng cao lao
động cũng thực sự cảm động đáng khâm phục, dân ở xã xa
phải đi 2 ngày đường để tới nơi làm việc. Người dân tự
túc dựng lấy lều lán cho mình, tự lo hậu cần, tự đem
công cụ như dao cuốc và cũng tự nấu ăn lấy trên công
trường. Dân lên công trường với chế độ 30 ngày công/năm
và mỗi ngày công được thanh toán là 1 kg gạo và chỉ có
thế thôi. Thế nhưng, hết đợt lao động này đến đợt lao
động khác, năm này qua năm, khác họ vẫn vui vẻ hào hứng
lên đường, mặc cho bọn phỉ phá hoại, gây loạn giết cán
bộ, ở Lùng Búng (bản Muồng), Lũng Phìn, Mèo Vạc… Vùng
cao vào đông rét thấu xương, vậy mà bà con qua đêm có
người ôm con nhỏ vào lòng trong cái lều dựng ngay tại
nơi làm việc với tấm vải mỏng che thân. Họ lao động từ
sáng sớm, đến chiều tà và cứ bền bỉ như vậy cho tới ngày
hoàn thành khối lượng được giao. Để hoàn thành tuyến
đường Hà Giang - Đồng Văn, họ đã đóng góp trên 900.000
ngày công, cộng với 1.100.000 ngày công của lực lượng
thanh niên.
Sau gần 5 năm, ngày khánh thành toàn tuyến dài 164 km
được tổ chức tại điểm cuối là xã Đồng Văn. Tham dự có Bộ
trưởng Bộ GT - VT Phan Trọng Tuệ, các đại biểu Khu Việt
Bắc, các tỉnh có thanh niên xung phong trên công trường…
Buổi mít tinh diễn ra nhanh gọn, đơn giản và nhanh chóng
chuyển thành sự hòa nhập vui chung của tất cả mọi người
có mặt. Không có biểu ngữ, không có bằng khen, không có
Huân, huy chương… mà chỉ là những bàn tay nắm chặt lưu
luyến, từng nhóm khi quay về Hà Giang nán lại Yên Minh
để viếng mộ các thanh niên đã hy sinh.
Trước khi về Hà Nội, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ hỏi tôi có
yêu cầu đề nghị gì, tôi báo cáo chỉ xin được nêu một đề
nghị là Bộ cho ghi đường này vào hệ thống đường Quốc lộ
để có kinh phí bao quân và nâng cấp dần từng năm, vì
ngân sách địa phương không thể gánh vác. Bộ trưởng đã
đồng ý ngay và cũng ngay năm đó, Giao thông Hà Giang
được cấp kinh phí, sự quyết đáp không do dự của Bộ
trưởng phải chăng đó là sự biểu lộ trách nhiệm cao của
vị Bộ trưởng với vùng biên giới xa xôi, khó khăn.
Sau ngày khánh thành đường Hà Giang - Đồng Văn, chúng
tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ làm tiếp từ Đồng Văn đi Mèo
Vạc, lúc này Đồng Văn được chia thành 4 huyện: Quản Bạ,
Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, thế là đoàn khảo sát, các
đội thanh niên xung phong 6 tỉnh, dân công lại lên
đường. Đoạn đường này chỉ dài 22 km, nhưng lại là đoạn
gian nan nhất, nguy hiểm nhất vì phải vượt dốc Mã Pì
Lèng hay dốc 9 khoanh, dốc đứng như sống mũi con ngựa.
Không thể đi theo hướng của đường ngựa thồ, mà phải ôm
toàn bộ vách đá Mã Pì Lèng dài trên 1 km. Riêng đoạn
này, thanh niên đã phải treo mình trên vách đá, phá vách
đá có chỗ cao 30m, suốt 11 tháng ròng; đúng là treo mình
vì vách đá không còn chỗ đứng để quai búa, giữ choòng…
Mở đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc là một trang vàng
lịch sử, là một bản anh hùng ca về lý trí, niềm tin và
sức mạnh chiến thắng của các lực lượng thanh niên xung
phong và nhân dân địa phương trước gian khó thách thức
của thiên nhiên hùng vĩ.
|