|
Chuyện tết quê
Tản văn:
Đặng Quang Vượng
Có ai trong cuộc đời mình lại không có kỷ niệm ngày Tết
ở quê hương- nơi “chôn nhau cắt rốn”. Mặc dù mỗi một
vùng quê có những phong tục, tập quán Tết hơi khác nhau,
nhưng phong tục cơ bản nhất của con Hồng cháu Lạc vẫn là
nhà nhà háo hức lo nồi bánh chưng cúng Tổ tiên; lau dọn
bàn thờ, đồ đạc; chọn cây tre hoặc cây mai, trúc đẹp làm
cây nêu dựng trước cửa nhà để xua đuổi tà ma và tiễn ông
Công, ông Táo lên trời, sau một năm công việc bận rộn
dưới trần ( theo duy tâm). Đồng thời mỗi gia đình cũng
không thể thiếu vắng cành đào hoặc mai- một biểu tượng
hạnh phúc bất diệt của mùa Xuân cho con người vào đúng
dịp Tết Nguyên đán.
Một niềm vui và hạnh phúc là những người thân trong gia
đình, sau một năm bươn trải , mưu sinh cuộc sống đời
thường, dù cách xa, dù bận nhiều công việc, ngày Tết vẫn
cố gắng dành thời gian dù ít dù nhiều về quê cha đất tổ
để đắp mộ, thắp hương kính cẩn tưởng nhớ tổ tiên. Đồng
thời anh em , họ hàng, bè bạn được gặp nhau, chia sẻ vui
buồn sau những tháng ngày dài “đất khách quê người”,
nhọc nhằn kiếm sống.
Với tôi do hoàn cảnh công việc, xa quê đã hơn 30 năm,
mặc dù chẳng ở đất Tây, Tàu, nhưng hầu như tôi chỉ được
ăn Tết chính thức ở quê 3 lần. Công tác, con cái, gia
đình khách quan… nhiều khi tôi bị cuốn hút và bất lực,
làm tôi thành người có lỗi.
Năm ngoái Tết Kỷ Sửu, gia đình tôi quyết định về ăn Tết
với ông bà nội ở quê. Bố tôi đã 83 tuổi. Mẹ tôi 85 tuổi.
Hai cụ ở riêng tại ngôi nhà trên đất năm xưa cụ tôi để
lại. Anh em tôi trưởng thành mỗi người làm ăn sinh sống
một nơi, chỉ có cậu út sau khi ở nước ngoài về, thôi
công tác ở quê làm nhà ở bên cạnh ông bà. Bố mẹ tôi lòng
rất vui nhìn các con cháu về quê ăn Tết, nước mắt rơm
rớm mà không nói nên lời. Nhà tuy chật chội, sinh hoạt
chẳng được như thành phố, nhưng ông bà vẫn dành cho gia
đình nhỏ của tôi sinh hoạt thuận lợi. Các con tôi rất
vui, được gặp ông bà, các bác, cô chú, các anh chị , các
em…bên nội. Được các chị, các em dẫn đi chơi leo đồi cọ,
chè; đi trên con đường làng đỏ đất, bóng tre xanh buông
rủ, nghe tiếng chim hót líu lo; đi thả diều …Tôi có cảm
giác như bọn trẻ được lạc vào giũa thiên đường của xứ sở
cổ tích. Nhìn bọn trẻ vui chơi, tôi bỗng tràn về ký ức
tuổi thơ chăn trâu, đi học…Hơn 30 năm rồi xa quê, mặc dù
trong những lần đi công tác tôi vẫn tranh thủ về thăm
ông bà, nhưng chỉ là chốc lát…Lần này tôi cảm nhận được
sự thay đổi của làng quê thật bất ngờ. Cánh đồng ruộng
làng năm xưa của tập thể giờ đã tư nhân hoá, bà con
nuôi thuỷ sản. Hàng trăm ha ao hồ bỏ trồng lúa chuyển
sang nuôi cá, tôm hàng hoá. Hơn hai mươi năm trước dân
quê tôi đâu biết kinh tế hàng hoá là gì. Trồng lúa một
vụ, vụ còn lại ngập úng bỏ không lẫn với ao đầm…, cá tôm
sinh sản tự nhiên. Giờ kinh tế thị trường, làm cái gì
cũng phải tính toán có lãi, thành hàng hoá. Vậy là những
người nông dân “hai xoa ba đập” hôm nào, nay đã và đang
trở thành ông chủ, chí ít cũng trên đồng đất này mỗi năm
thu về từ thuỷ sản, dịch vụ…ngót nghét trăm triệu , hơn
trăm triệu là trong tầm tay. Còn chuyện hàng quán mọc
lên khắp làng: bán hàng tươi, hàng khô, quán cơm, phở,
bún, bánh cuốn, thịt chó 9 món, gà chín phút…Rượu Tây
có, Tàu có, rượu thuốc ngâm rắn hổ mang chúa có, rượu
ngâm theo bài thuốc Minh Mạng, dâm dương hoắc có vv…
Thôi thì đủ cả, thành thị có khi còn kém hơn ở quê…Về
quê bây giờ chẳng phải lo ăn lót dạ sáng nữa. Có dăm ba
người bạn về chơi, bữa cơm không tất bật như trước: gà
đồi, lợn đen “tên lửa”, cá dưới ao, rau làng…toàn “đồ
sạch”, có nhu cầu mang đến tận nhà.
Làng tôi thật may lại nằm trong vùng qui hoặch con đường
chiến lược xuyên tỉnh, quốc gia. Đùng một cái năm nngoái
nhà nước đền bù, hàng chục hộ bỗng trở thành triệu phú,
nhà xây một tầng, hai tầng mọc lên; kèm theo nó là các
loại xe máy đắt tiền. Nam thanh, nữ tú trong làng chẳng
biết đã có bằng lái hay chưa, phóng xe vèo vèo, quên cả
đội mũ bảo hiểm. Mà ở làng làm gì có cảnh sát giao thông
đến…Xã tôi lại mới có bến xe ô tô khách. Dân đi lại bây
giờ chẳng phải lo dậy từ 2, 3 giờ sáng đi bảy, tám cây
số sang thị xã đón xe. Chợ làng họp vào ngày chẵn (âm
lịch), vì là xã sớm phát triền văn hoá, kinh tế của khu
vực hạ huyện, nên vào những buổi chợ, các xã bên bà con
kéo sang họp rất đông. Cả ô tô, xe máy chở hàng hoá tới
nhộn nhịp, phong phú …Xem ra cũng không kém thành phố
là bao.
Nhưng dân “phú”, xã chưa giàu. Kết cấu hạ tầng của xã
còn kém lắm. Đường chính từ quốc lộ vào xã có vài cây
vẫn đất đỏ, gồ ghề. Các con đường liên thôn vẫn mặt đất
đỏ quạch. Nhà trụ sở UBND xã năm ngoái mới xây xong hai
tầng, nhưng sân vẫn nền đất và cổng vẫn “trời”…Lãnh đạo
cấp uỷ, chính quyền xã là bạn học
cùng nhau, gặp lại trông ông nào cũng bụng nây, đầu
mượt, quần áo là cứng, thắt ca vat, điện thoại di động,
giầy đen… Hỏi bạn mới biết thêm giờ khoán ngân sách xã,
các khoản thu kém lắm, mỗi năm bình quân vài trăm triệu
đồng không đủ chi…, lấy đâu ra để “tái sản xuất”. Kinh
phí trên cho quá hạn hẹp. Cái trạm y tế xã 30 năm trước,
giờ cũng chỉ sửa sang lại chút ít. Có bác sĩ xã nhưng
bệnh nhân thì hầu như phải “chuyển tuyến trên”, vì lực
bất tòng tâm. May mà ngôi trưòng THCS xã, có mấy ông cựu
học sinh, nay có chút chức sắc ở trong tỉnh, ngoài tỉnh,
cũng vì quê hương mà” lao tâm khổ tứ”, xin được kinh phí
đầu tư xây dựng… giờ hai tầng khang trang đẹp nhất làng.
Ngôi trường này đã có nhiều thế hệ học sinh làm vẻ vang
thêm truyền thống; hàng trăm kỹ sư, bác sĩ, phó giáo sư,
tiến sĩ, cán bộ, bộ đội…đã tham gia vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ ngôi trường này ra đi, trong
đó có người đã trở thành vị Thượng tướng, Tổng tham mưu
trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay- Nguyễn Khắc
Nghiên.
Có một điều mà tôi cảm thấy rất tự hào, mặc dù nền kinh
tế của xã vẫn còn nhiều khó khăn, đời sống của bà con
còn nhiều hộ nghèo. Nền kinh tế thị trường thì cứ ngày
càng ăn sâu vào các ngõ ngách, thôn xóm, đến từng người
không kể là ai. Sự thách thức cũng là sự thử thách lòng
người. Nhưng ở quê tôi, tình làng nghĩa xóm vẫn “tối lửa
tắt đèn có nhau”. Ra khỏi cửa nhà, gặp bà con ai cũng nở
nụ cười, lời chào mời thân thuộc, có nhã ý về nhà uống
nước.. Dịp Tết về quê, tình cờ tôi gặp lại hai bạn học
ngày xưa, nay là giảng viên đại học; gặp lại các anh,
chị người làng thế hệ trước, giờ là phó giáo sư, tiến sĩ
đang dạy ở các trường đại học, viện nghiên cứu…, gặp
những người con xa quê đang sinh sống học tập ở mọi miền
Tổ quốc và ở nước ngoài…, trên đường cùng đi đắp mộ cho
tổ tiên ngày giáp Tết, ai cũng thấy mình thật gần gũi,
thân quen và chia sẻ…
Con chim có tổ, con người có quê hương là vậy.
|