|
Về xứ sở hoa đào
Dọc con đường Hạnh Phúc lên bốn huyện phía Bắc
của tỉnh, người ở vùng đá kéo ra ngờm ngợp, đủ
loại quần áo, đủ loại sắc mầu, nhưng đông nhất
vẫn là quần áo Mông, sặc sỡ trong mầu váy lanh
to, váy lanh nhỏ, riềm thêu đỏ chói. Họ kéo tay
nhau, đi từng đoàn, không có điểm đến, cũng
không có điểm bắt đầu, cứ đi lên mãi, lên mãi,
đến khi nào mỏi gối, chồn chân thì quay lại, rồi
lại đi và lại quay lại để đón xuân. Trong ánh
mắt lúng liếng của những thiếu nữ đang thời,
những cái nhìn đến cháy bỏng thèm khát của chàng
trai vác khèn mà chưa hề được đưa lên miệng
thổi. Đó là cách đón tết rất riêng của người dân
trên Cao nguyên đá, nơi có đỉnh Lũng Cú, nơi
chóp nón thiêng liêng của Tổ quốc.
Du Xuân kéo vợ, tìm chồng

Cùng đón xuân mới Ảnh:
Minh Trường
Họ chờ mùa Xuân, họ đợi tết về, họ cùng khao
khát, cùng mong ước và cùng say sưa đi tìm nhau
qua lời dân ca, qua tiếng khèn, qua ánh mắt, qua
cách uống rượu, đông bạn bè, nhiều thân hữu,
trong hơi xuân, men rừng, men núi. Họ bỏ bình
tông rượu ra ngay bên nề đường, trên bãi cỏ mời
nhau, chúc nhau. Những cô gái xúm nhau lại ăn
chung một cái bánh, một gói kẹo, hay một gói
xôi, rồi họ lại cùng nhau uống, uống rượu đến
say mềm, say đỏ phừng phừng cả mặt. Họ ngồi chờ
đợi, có những chàng trai đến kéo tay họ đi, khi
ấy không cần phải thẹn thùng, không cần phải làm
dáng, mà chỉ cần cái tình yêu trong họ đủ sức
sai khiến bàn chân bước theo đôi chân bạn trai
cũng liêu xiêu không kém. Những chàng trai cũng
say, say Xuân, say rượu để lấy hết dũng khí nam
nhi, lấy hết can đảm đến kéo tay cô gái đẹp
nhất, xinh nhất mà mình ưa thích nhất, trong đám
bạn bè vào núi, vào đồi, hay vào bên cạnh một
hòn đá to nào đấy mà tâm sự, mà hưởng cái say
của mùa Xuân.
Cũng chẳng biết cái lệ kéo vợ có từ bao giờ, chỉ
biết cứ kéo như thế mà cô gái chịu đi, là cô gái
đã đồng ý theo mình, muốn lấy mình làm chồng,
muốn theo mình về làm “cái ma nhà khác”. Mỗi mùa
Xuân về, dọc theo con đường Hạnh Phúc này, tôi
dám chắc có hàng trăm đôi trai gái người dân tộc
Mông nên vợ, nên chồng. Họ kéo nhau về nhà chàng
trai, đưa cô gái vào buồng, rồi đóng kín cửa lại
để tâm sự, để hiểu thêm về nhau.
Những năm trước đây, khi đi lên Cực Bắc, chỉ có
một màu đá xám, xám đến quặn lòng, trước cái
thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chữ, thiếu thông
tin... Còn bây giờ “không cho đất nghỉ, không
ngừng tay ta”, người Mông, người Dao, người
Nùng... đã biết đưa đất vào thâm canh, vào luân
canh, gối vụ, đâu còn cái thời quảng canh như
trước. Mải ngắm người, ngắm chợ Quyết Tiến,
những chiếc xe ô tô tải xếp đầy rau xanh, súp
lơ, xu hào, bắp cải, những xe chở bò thịt, lợn
thịt..., tôi giật mình khi một ông cụ người dân
tộc Nùng bê “chẩy” rượu đến bên cạnh, cất tiếng
mời: “Mày đi chụp ảnh hả, mày uống với tao một
“chẩy” rượu này cho vui, cho tao có thêm cái bạn
người kinh. Vợ tao nó bảo, người ta còn có cả
bạn người kinh nữa, mà mỗi tao là chưa có bạn
uống rượu người kinh thôi…Mày mà uống rượu cùng
tao, mà là bạn của tao, thì vợ tao vui lắm…”.
Những con đường xanh
Trong cái men say của chợ phiên mùa Xuân, tôi
vượt lên cổng trời, để được tận hưởng cái phút
giây bao dung, ấm áp, trong một vòng tay ôm “non
xanh, mỡ màng” giữa trời và đất, ngắm nhìn thị
trấn Tam Sơn, chiêm ngưỡng núi Cô Tiên, Quản Bạ
trong nắng sớm. Chỉ có một khoảng cách bằng đúng
một mùa Xuân thôi, mà Quản Bạ đã thay đổi đến
ngỡ ngàng. Phố núi, như cô gái ở tuổi dậy thì,
đội chiếc mũ đỏ làm duyên của ngói, của tôn
lạnh, lồng bóng vào mây, các công trình xây dựng
khoác cho thị trấn một màu áo mới.
Giữa rừng thông xanh vi vút, vùng sở trắng hoa,
sương núi đến gần trưa dần tan, thoáng ẩn,
thoáng hiện, những bản làng của xã Lao Và Chải,
Na Khê, của huyện Yên Minh. Đây là khu rừng
thông được liệt vào hàng thứ hai về vẻ đẹp trên
Cao nguyên đá, nó không rộng, không nhiều, không
có hồ, có nước như Đà Lạt, Lâm Đồng, nhưng mang
đầy âm điệu của mùa Xuân, đã được đánh dấu trong
bản đồ “du khảo” của tuổi trẻ cả nước. Đường lên
cực Bắc ấm lên, khi những đàn bò ung dung gặm
cỏ, những khu ruộng bậc thang đang chờ mùa mưa
mới, những anh, chị người Mông cưỡi Dreem nhẹ
lướt trên đường, đằng sau xe là những cum ngô,
cum mạch...
Qua vùng xoài, vùng mía, để vượt dốc đá trên ngã
ba Viềng, khi lên hết dốc chín khoanh Thẩm Mã,
thật may mắn, tôi đã gặp được những người nuôi
ong hạ trại. Hàng nghìn đõ ong lô nhô, bày xếp
trên khắp sườn đồi, cuối đông, đầu xuân, mùa này
còn ít hoa thường thì họ phải di chuyển nhiều
nơi để đàn ong có thể sinh tồn và cho những giọt
mật quý giá. Mật ong Bạc hà Mèo Vạc đã được
nhiều người tiêu dùng trong cả nước biết đến. Đã
có nhãn hiệu hàng hoá, đặc sản, chất lượng cao
và hàng trăm câu nhắn nhủ, khi có người lên vùng
Cao nguyên đá công tác: “Nhớ mua giúp mình một
chai mật ong Bạc hà Mèo Vạc nhé...”
Đâu đâu trên Cao nguyên đá này, ta cũng có thể
bắt gặp những con đường dân sinh bám vào sườn
đá, dẫn về các bản làng. Đá xếp lên đá, chồng
lên nhau mà đi lên, mà về những cụm dân cư,
những xóm làng, khoét sâu vào sườn núi đá để
thành đường, thành lối, như minh chứng cho sức
vóc một Cao nguyên, giữa đất trời. Đường vượt Mã
Pì Lèng đến với Thượng Phùng, Xín Cái; đường
vươn lên Ma Lé đến với đỉnh Lũng Cú, đỉnh cao
nhất của Tổ Quốc, nơi mà ai đó một lần đến với
Hà Giang đều khao khát được đặt chân, mà rưng
rưng trong niềm linh cảm về việc “dựng làng, lập
ấp, giữ đất, giữ rừng” đã bao đời cha truyền,
con nối, làm lên một biên cương.
Chỉ cần đi trên đường nhìn xuống, nhìn sang, hay
nhìn lên các đỉnh đá, nơi nào cũng có đường, có
trường học cao tầng, có trạm Y tế, có trụ sở
UBND và các xã đều đã có điện lưới Quốc gia.
Những khát vọng bao đời của người dân nơi đây đã
được đền đáp. Đã có lần anh Lò Giàng Páo, hay
anh Vương Chí Bảo, là người sinh ra tại Đồng
Văn, Mèo Vạc, nay công tác tại Hà Nội, nói với
tôi: “Đúng là đá cũng nở hoa bốn mùa...”.
Và xứ sở hoa đào
Người ta nói lên Cao nguyên đá Đồng Văn là về
với xứ sở hoa đào quả không sai. Ngay trong sân
UBND huyện Đồng Văn, ngay cổng Đồn Biên phòng
Đồng Văn, hay Đồn Lũng Cú, trước sân trạm Biên
phòng ở Lũng Cú dưới chân núi Cột cờ, hoa đào
đang khoe sắc mới, một sắc hoa đào mà tôi cho là
chỉ có được như thế ở vùng cực Bắc này. Vẫn là
cây đào phai, cây đào truyền thống của Việt Nam,
mà hoa ở đây có màu hồng đậm hơn, to gấp 2, gấp
3 lần hoa đào ở vùng khác, để rồi hết mùa hoa
cho những quả cũng to hơn, cũng đậm đà vị thơm,
ngọt hơn nhiều.
Ông Sùng Đại Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đồng Văn
đã nói với tôi:
-Trước đây, hoa đào Đồng Văn ngập tràn hết miền
đá này, chỗ nào, nơi nào cũng hồng trời hoa đào
mỗi khi mùa xuân đến.
Tôi đứng rưng rưng dưới chân cột cờ Lũng Cú, một
điểm mốc cho giang sơn, biên giới đất nước. Đứng
trên đỉnh núi Rồng, nhìn về phương Nam, nơi đuôi
rồng đang vùng vẫy giữa đại dương mà nghe hơi
thở rộng, dài Tổ quốc trước một mùa Xuân mới. Để
rồi, ngày mai, tôi trở về thị xã Cao nguyên và
thầm hẹn mùa xuân năm sau lại lên ngắm nhìn hoa
đào hồng núi, hồng rừng, lại được ngắm hoa lê,
hoa mận trắng trời, trong niềm kiêu hãnh, tự hào
dân tộc.
Nguyễn Quang
|