|
.
Người
đàn bà miền núi.
Trong những tháng
ngày tôi đã sống và viết về vùng đất xa tít tắp của mình, điều làm tôi
day dứt nhất, ám ảnh nhất là thân phận người đàn bà. Người đàn bà miền
núi, dậy trước gà gáy, ngủ sau trăng sao, cõng trên lưng sự tồn vong
của cả một gia đình, với một đàn con lít nhít, đứa lớn hơn đứa bé cái
chỏm tóc. Tôi rất nhớ hình ảnh những người đàn bà miền núi, gùi trên
lưng một cái gùi nặng đựng ngô, lúa, mật ong, lợn con, rượu, củi…
xuống chợ, lại gùi một cái gùi nặng mắm muối, vật dụng trở về khi
chiều tàn, chợ tan, nhưng nhớ hơn là phía trước, ngay dưới những gương
mặt cúi gằm vì mải nhìn đường, vì thói quen, vì giữ ý… là những chiếc
bướu rất nặng nề, rất xấu xí. Khi tôi còn nhỏ, tôi rất hay gặp những
người đàn bà có bướu. Họ không thể cúi xuống đặt cằm lên ngực như
người bình thường, họ không thể đi nhanh mà cái bướu lại không lúc
lắc, cái bướu to như quả
Nét quê.
bưởi dính chặt lấy cơ thể họ. Tôi vẫn thường
tự hỏi không biết khi ngủ thì họ phải làm thế nào với cái bướu. Phải
đến sau này, khi đã lớn tôi mới biết việc họ phải mang bướu là do điều
kiện tự nhiên mang lại, nghĩa là họ chẳng có lỗi gì khiến ông trời
trừng phạt, lỗi duy nhất là họ đã sinh ra và lớn lên trên vùng đất
này, yêu thương nó, chắt chiu từng giọt mồ hôi cho nó, chăm bẵm để nó
trả lại cho bắp ngô, hạt lúa. Thế nên, đã có những gương mặt vô cùng
thanh tú, khả ái, da trắng, mắt đen, má hồng khiến đêm trăng nào cũng
nườm nượp trai làng xếp hàng chờ lượt đã dần dần bị biến thành một
người đàn bà gầy gò, xanh xao, mắt trố ra, môi bợt bạt, má hóp lại.
Cái bướu đã hút hết sinh lực của họ, đã tước đi vẻ đẹp trời ban cho họ
một cách tàn nhẫn. Vậy mà người đàn bà vẫn phải tiếp tục vừa đeo hai
dây gùi lên vai vừa đeo cái bướu trước cổ chăm bẵm cho cuộc sống gia
đình, cho đến lúc nằm xuống với đất đai, rừng núi. Sự xấu xí do cái
bướu mang lại thực ra không đáng sợ bằng sự hủy hoại nhan sắc do nó
gây ra. Bạn, một người phụ nữ hiện đại, bạn sẽ ra sao nếu như một ngày
nào đó bạn nhìn thấy mình ở trong gương, xấu xí đi một cách nhanh
chóng đến không kịp chớp mắt? Đi thẩm mỹ viện để níu kéo ư? Hay tăng
thật nhiều hoa quả, rau xanh trong khẩu phần ăn? Hay hùng hục trên sàn
tập thể dục? Còn những người đàn bà miền núi trong kí ức của tôi, lẳng
lặng chấp nhận sự khắc nghiệt của số phận, của thiên nhiên, không bao
giờ soi gương nữa, chỉ còn nhìn thấy trước mắt mình cái bụng của đám
con căng tròn hay lép xẹp mà thôi.
Tôi cũng nhớ
người đàn bà miền xuôi, theo chồng lên ngược lập nghiệp. Tất cả những
thói quen đều phải dần biến mất để thích nghi với cuộc sống nơi thâm
sơn cùng cốc, nơi núi cao, vực thẳm, nơi thiên nhiên luôn luôn thử
thách lòng người. Và khát vọng thoát khỏi đói nghèo triền miên, cho
con một manh áo đẹp, cho con một bát cơm trắng có cá có thịt có khi
đeo đẳng trong tâm trí mãi cho đến khi từ giã cõi đời.
Đứng từ trong
vườn nhà tôi nhìn qua sông, sang triền núi bên kia, buổi chiều mùa hè
nắng rọi thẳng chói chang có những tấm lá cọ buổi sáng thì xanh, buổi
chiều chuyển sang vàng di chuyển từng chút một, từ phải qua trái, lại
từ trái qua phải, từ đỉnh núi xuống chân núi. Đấy là cách che nắng của
những người Dao đang làm nương. Cả một triền núi dốc, đất đỏ rực,
không một bóng cây. Nắng phía tây buổi chiều cứ thế rọi thẳng vào và
cách duy nhất để che bớt cái nắng nóng là dùng những tàu cọ để che,
làm đến đâu lại nhổ tàu cọ cắm theo đến đó, cái khoanh râm mát chỉ có
đường kính tầm 1m. Và phía dưới chân nương kia, chắc chắn đang có một
vài đứa trẻ ngủ vạ vật. Đứa lớn thì ngủ trên cỏ, đứa bé thì ngủ trong
địu, và cái địu thì treo trên một cành cây, ngay trên đầu anh (chị)
nó. Khi ấy người đàn ông Dao ở đâu? Mãi về sau này câu hỏi ấy không
ngừng trở đi trở lại trong đầu tôi. Người đàn ông ở đâu để người đàn
bà phải cắm cúi, buồn tủi làm lụng một mình sau cái bóng râm có đường
kính 1m và lũ con thì ngủ vạ vật dưới chân nương?
Niềm hạnh phúc
giản đơn mà hằng ngày chúng ta vẫn đón nhận như bó hoa ngày dành cho
ngày 8.3, hay món quà sinh nhật mà chồng, con năm nào cũng nhớ, hay
chỉ đơn giản là một nụ hôn tạm biệt mỗi buổi sáng từ nhà đến nơi làm
việc... là điều vô cùng xa xỉ với họ. Người đàn bà miền núi 100 năm
trước và chưa biết đến bao giờ, luôn luôn đi ngủ sau cùng và thức dậy
sớm nhất, làm lụng nhiều nhất và ăn uống ít nhất, miếng ngon trên mâm
cơm bao giờ cũng nhường lại cho chồng con, tấm lưng mỗi ngày một còng
xuống, còng xuống, cho đến khi về với tổ tiên vẫn không thẳng ra được.
Mang tấm lưng còng và một cuộc đời cực nhọc, lấy no đủ của gia đình
làm niềm vui và nỗi khát khao của mỗi đứa con làm mục đích sống xuống
dưới những tảng đá trắng xóa.
Tại sao tôi cứ
viết về đàn bà, với những cuộc đời rủi ro và số phận nghiệt ngã? Tại
sao những người đàn bà của tôi khi nào cũng phải sống trong những nỗi
khát khao lớn hơn dãy Tây Côn Lĩnh, sâu hơn đáy sông Lô - những nỗi
khát khao không gì nhấn chìm được, cũng không cách gì đạt tới được?
Những cuộc đời đầy âu lo. Những năm tháng luôn phải đối mặt với thiên
nhiên khốc liệt, cõi đời trắc trở, tình yêu mong manh... Tại sao vậy?
Phải chăng vì, như một người đã nói với tôi: Cuộc đời đàn bà buồn
nhiều hơn vui, lo âu nhiều hơn mãn nguyện? Phải chăng vì, trời sinh ra
đàn bà để chẳng sống mấy cho mình?
Cuốn sách thứ
nhất, cuốn sách thứ hai, thứ ba... tôi vẫn dành cho những người đàn
bà. Người đã án ngữ trong kí ức của tôi về vùng đất thân yêu bạt ngàn
cây rừng, hoang vu gió, tầm tã mưa, sôi sùng sục nước dưới những dòng
sông ngoằn ngoèo cuộn chảy.
Đỗ Bích Thuý |