.

              Hai trăm tám sáu bậc lên cột cờ.

                                                                                                                                                               Hà Phạm Phú

                                                                                                                                                       (Hội Nhà văn Việt Nam)

Cột cờ tôi nói đây là cột cờ trên Lũng Cú, chót đỉnh của Tổ quốc Việt Nam. Đứng chân tại địa điểm đang xây nhà văn hoá Lô Lô theo đúng cách thức cổ điển- đúc tường bằng đất, trình tường- nhìn lên thấy lá cờ Tổ quốc đỏ tươi phần phật bay trong gió. Cách đây mấy năm, cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi chỉ dựng tạm thời, nay đã được xây bê tông cốt thép, vững chãi, đường lên cột cờ kh”ng còn phải trèo bộ mà được mở rộng trải nhựa, ô tô có thể lên gần đến nơi. Từ bãi đỗ ô tô leo đến cột cờ, đếm được đúng 286 bậc đá. Lá cờ đỏ bay trên chót đỉnh Tổ quốc như một biểu tượng của lòng tự hào, lòng tự tôn, tinh thần kiêu hãnh và ý chí tự cường của trên 3500 con người gồm Mèo, Lô Lô… cùng đại diện của các dân tộc anh em khác ở Lũng Cú, cũng là của cả dân tộc Việt Nam. Hai trăm tám sáu bậc đá ấy chứa bao nhiêu ý nghĩa, ẩn giấu bao điều muốn nói.

Đầu những năm 1980 của thế kỷ trước, với tư cách là một nhà báo mặc áo lính, tôi đã lên với những chiến sĩ chốt ở ba xã bên kia sông Nho Quế: Xín Cái, Thượng Phùng và Sơn Vỹ thuộc huyện Mèo Vạc. Ngày đó muốn lên Mèo Vạc chỉ có con đường duy nhất, con đường mới mở từ Đồng Văn đi, vượt qua đỉnh Mã Pì Lèng, hun hút như đường lên trời, một bên vách đá dựng đứng, một bên vực sâu với dòng Nho Quế xa mảnh như một sợi lanh bị cô gái Mông nào đó đánh rơi, với người yếu bóng vía thì e sẽ chóng mặt, chả thế mà có người lái xe vào Mèo Vạc rồi không dám trở ra. Sau này, mở thêm con đường từ Yên Minh đi Mèo Vạc, đường có hiểm trở, nhưng không thể so với Mã Pì Lèng.

Đêm trước khi lên đường vào Mèo Vạc, tôi ngủ lại ở Đồng Văn. Nhắc đến Lũng Cú mà lòng nôn nao, bồn chồn, y như ngày ấy nhắc đến Cà Mau vậy. Ngày đó, từ Đồng Văn lên Lũng Cú, xa chưa đến 25 cây số, nhưng chỉ có đường mòn cho ngựa đi, cho người gùi đi bộ, thành thử muốn đến mà không đến được.Trong chiến hào ở Mèo Vạc tôi may mắn gặp được một thanh niên người Mông quê gốc Lũng Cú, sau giờ trực ban chiến đấu đã kể cho tôi nghe về mảnh đất quê mình.

Trở về Hà Nội ít lâu, tôi đã viết một bài tuỳ bút với tựa đề “Lũng Cú ở Hà Nội”, đăng trên trang một số thứ bẩy báo Quân đội nhân dân, tưởng tượng ra cuộc gặp gỡ đầy kì thú giữa tôi và chàng trai Mông Lũng Cú chân chất, ngay thẳng, đầy quả cảm trong bộ trang phục dân tộc, với con dao găm như một thứ đồ trang sức đeo ở bên hông, ngay giữa đường phố Thủ Đô. Ngày ấy, trong bầu không khí chính trị khá phức tạp và căng thẳng, tôi muốn gửi đến bạn đọc những tình cảm thân thương của người dân Lũng Cú đối với cả nước và hi vọng thông qua bài viết của mình khơi dậy lòng yêu nước sâu bền trong dòng tiềm thức người Việt về một vùng đất thiêng liêng của Tổ Quốc.

Lũng Cú ngày ấy trong trí tưởng tượng của tôi là những trái núi đầy cây xanh, là những thung lũng nhỏ sóng sánh đôi ba hồ nước biêng biếc ánh trời, còn những người dân Mông, Lô Lô... những người dân trụ vững trên vùng biên cương từ bao đời như những hình ảnh dân binh gan góc.

Hôm nay đứng dưới chân cột cờ Lũng Cú cùng tôi còn có nhà văn Hà Đình Cẩn vốn xưa cùng làm báo Quân đội nhân dân với tôi và nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, một binh nhất có thâm niên sáu năm. Chúng tôi phóng mắt nhìn ra bốn hướng, dùng ống kính têlê để thu những hình ảnh chòm xóm, đồng ruộng và sông núi. Hà Đình Cẩn bảo tôi, rằng ngày ấy nhà báo Công Bằng tỏ lời khen bài “Lũng Cú ở Hà Nội” của tôi, ông có tìm đọc, và bảo rằng tôi bịa cũng ghê. Ông Cẩn nói: “Tôi còn nhớ tiếng lách tách của bao dao đánh vào hông của chàng thanh niên người Mông ấy đấy”.

Đúng thế, ngày ấy tôi viết về Lũng Cú theo sự hình dung của tôi. Còn bây giờ Lũng Cú ngay trước mặt chúng tôi đây, ngay dưới chân chúng tôi đây, và so với ngày ấy, thời gian quả là quá xa vời, không rõ Lũng Cú ngày đó và bây giờ đã khác nhau đến đâu? Ngay dưới chân cột cờ là những cánh ruộng bậc thang tương đối bằng phẳng, có một chiếc hồ tròn đầy nước. Có một chiếc hồ đã tát cạn để kè bờ. Những khóm nhà người Mông được vây bằng bức tường rào xếp toàn đá, nom xa đẹp và xinh xắn như một thứ đồ chơi. Xóm người Lô Lô ở lẫn với đá, mái lợp ngói cong, tường trình dầy đến nửa mét. Nhưng những nhà như thế không nhiều. Bây giờ người ta lợp bằng ngói Phi-brô-xi-măng, nhờ đầu tư của Chương trình 134, 135, làm mất đi cái cảm giác ấm cúng, hơi có vẻ xưa cũ, nhưng rất đáng yêu.

Đi từ Ma Lé lên Lũng Cú thấy nhiều núi đất, thấy có cây xanh, không một mầu xám xịt như dưới Đồng Văn, hoặc bên kia Mèo Vạc. Nhưng đồi trọc thì vẫn nhiều. Đứng bên chân cột cờ nhìn thấy những cụm cây xanh hiếm hoi mùa khô nhong nhóng vươn cao, che dưới bóng chúng con đường đất ngoằn ngoèo trắng như rắc phấn. Lũng Cú là một thung lũng, vây quanh là những quả đồi tròn như bát úp, còn xa hơn là những dải núi đất, núi đá nối nhau. Con sông Nho Quế làm thành biên giới tự nhiên chứa trong lòng nó bao nhiêu câu chuyện cũ và mới.

Anh Phó Chủ tịch xã đưa chúng tôi về nhà, bảo vợ, một cô giáo mầm non trong số 8 cô giáo mầm non của địa phương, nấu cho chúng tôi một bữa cơm vùng cao, có thịt bò 70 ngàn đồng một ký, có cá dùng tên bắn từ dưới sông Nho Quế lên, có rau xanh. Chị vợ là người Lô Lô Mèo Vạc, quen thời cùng học dưới Hà Giang đưa về Lũng Cú cưới nhau, có đôi bàn tay khéo léo, đơm cơm cho chúng tôi, khiến nhà văn Nguyễn Thiện Kế phải thốt lên: Bữa cơm trưa Lũng Cú phải là một chương của thiên ký sự nhiều kỳ. 

Cả xã Lũng Cú rộng khoảng 3.460 ha, chỉ có 97 ha là gieo trồng lúa nước, còn lại đất để trồng ngô chiếm 362 ha. Thật ít ỏi, nhưng so với những xã khác, có lẽ Lũng Cú có nền kinh tế vào loại khấm khá. Nhà của Phó Chủ tịch xã gần trụ sở ủy ban, khá khang trang, trần nhà lát gỗ mua từ bên Trung Quốc về, giá không đến nỗi đắt so với khoản lương 1,6 triệu đồng của anh. Chúng tôi vừa ăn cơm vừa xem chương trình tin tức của truyền hình Trung ương.

Quả thật đời sống đã khác xưa nhiều. Tôi nhớ phiên chợ Đồng Văn hôm chủ nhật 16.12, gặp một cô sinh viên mỹ thuật ở Sài Gòn ra thực tập, tôi hỏi cô có cảm tưởng gì khi tiếp xúc với người Mông nơi cực Bắc. Cô bảo thấy đời sống của người Mèo chẳng thay đổi gì so với mô tả trong tiểu thuyết của Tô Hoài. Tôi hơi thấy thất vọng, nhưng  lại nghĩ, con người ta phải sống, phải trải nghiệm mới có được đôi mắt công bằng. Lẽ dĩ nhiên, còn có nhiều chuyện bất cập, còn nhiều “mảng tối” trong cuộc sống hôm nay, thậm chí có những thay đổi mà ta không mong muốn. Chẳng hạn cái con số 834 ha trồng cây sa mộc và cây sở kia có bao nhiêu phần trăm tin cậy? Chẳng ở Đồng Văn chỉ còn một người biết cách chế những cây khèn. Nhưng 12 cây số đường liên thôn do dân tự mở là có thật, và chúng ta có thể đặt chân lên.

Nhà văn Hà Đình Cẩn nói với tôi, nếu ông xây ông sẽ xây 300 bậc lên cột cờ. Đấy cũng là một cách, nhưng thực tế nó chỉ có 286 bậc. Vâng, cuộc sống là như vậy…