.

   Ăn tết nói chuyện học ăn.   

 

Còn nằm trong bụng mẹ, con người ta đã phải ăn. Thế mới nói “dĩ thực vi tiên”. Ai chả phải ăn để tồn tại. Điều ấy khỏi phải nói. Song ăn làm sao cho sạch, giữ được thanh danh, nhân cách, giữ được đạo lý làm người, có nghĩa, có tình với gia đình, với xã hội... thì chao ôi đâu có dễ! Liệu trên đời này có ai dám nói: Mình đã giỏi trong việc học ăn.

Từ khi mang thai và trong suốt thời gian nuôi con dại, người mẹ nào cũng biết kiêng khem không bao giờ gặp gì ăn nấy và cho con ăn bao giờ cũng có chừng, có mực. ấy cũng là tự mình thấu bài học sơ đẳng ăn sạch, có điều độ “cơm có bữa, chợ có chiều”. Khi con đã nhận biết thân sơ - bố mẹ, ông bà dạy cháu con “ăn thơm ăn thảo” không được ăn hỗn, ăn ham. Khi biết cầm thìa cầm đũa không được “ăn chọc, ăn chòi”. Đến tuổi tới trường “ăn vóc học hay”, “ăn nên đọi nói nên lời”, “ăn phải nhai, nói phải nghĩ”, không được “ăn ốc nói mò, ăn cò nói leo”, ăn sao cho sạch sẽ đàng hoàng, đừng có “ăn tro bốc trấu”, “ăn xó ngó niêu”.

Lớn lên đi ra ngoài “ăn tùy nơi, chơi tùy chốn”, “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “ăn trông xuống, uống trông lên”. Nơi thì “bốc bải giần sàng” nơi thì “đũa ngọc mâm vàng không ăn”. Lại cũng có nơi “vì tình vì nghĩa không vì đĩa xôi đầy”, đành phải “ăn nhiều ăn ít, ăn bằng quả quýt cho nó cam lòng”.

Lẽ thường “đánh nhau chia gạo chào nhau ăn cơm” cần có công bằng dân chủ “ăn miếng trả miếng”, “ăn đều tiêu sòng”. Ăn mà mất thanh danh thì “miếng thực là miếng nhục”. Trong họ ngoài làng có đình có đám thì đừng vội “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau” hoặc “đánh chó vào nhà giỗ”. Anh em họ hàng có công to việc lớn thì “ăn có mời làm có khiến” đừng có “lanh chanh như hứng tiền non, thấy bà có cỗ bế con cho bà”, “miếng ăn quá khẩu thành tàng” chớ có “tham một miếng mà tiếng để đời”. Vốn dĩ “nể người cho nợ, sợ người cho ăn”. Nếu “một miếng khi đói bằng gói khi no” thì ơn người một chút không quên, hay gì thói “ăn cháo đá bát”!.

Miếng ăn không chỉ coi trọng về giá trị vật chất mà nhiều khi lại nặng về đạo đức, tinh thần: “Miếng lộc thánh bằng gánh lộc trần”, “miếng giữa làng bằng sàng xó bếp”. Ai cũng biết chuyện “bát cơm Phiếu Mẫu”, Hàn Tín lúc còn hàn vi đói khổ bà Phiếu Mẫu gọi cho bát cơm lúc đói lòng, khi làm tướng quốc đã đem ngàn lạng vàng đến tạ ơn:

“Ngàn vàng gọi chút lễ thường

Mà lòng Phiếu Mẫu mấy vàng cho cân”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Chuyện tưởng khó tin nhưng thật chí tình, chí lý: Bởi lúc Hàn Tín đói khổ duy chỉ có bà Phiếu Mẫu gọi cho bát cơm, khi có cả giang sơn nhà Hán thì ngàn lạng vàng đối với Hàn Tín có thấm vào đâu. Mới biết nghĩa tình khó lòng cân đong cho được.

Cuộc sống thường nhật, ăn cũng phải tính toán “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, “liệu cơm mà gắp mắm”, phải biết ăn chắt để dành, cứ “bóc ngắn cắn dài” “hai tay vày lỗ miệng” thì suốt đời không thể “ăn nên làm ra” được.  Chưa có để ăn ngon mặc đẹp thì hãy “ăn lấy chắc mặc lấy bền” cho dù giàu có thì “buôn tàu bán bè không bằng ăn dè tiết kiệm”. Ngồi mà ăn thì “miệng ăn núi lở”, làm gì cũng đừng có vội ăn “dày” bởi “ăn ít no lâu ăn nhiều chóng đói”. “Tay làm thì hàm nhai, tay quai thì miệng trễ”. Ăn nhờ ăn bám là phường “giá áo túi cơm”...

Ăn - nói rộng ra là đi sâu vào cuộc sống hàng ngày còn bao nhiêu điều phải học. Có khi là ý thức, là trách nhiệm trong sự ăn, “Ăn hơn, hờn thiệt”, “của người thì đứng mà trông, có phải của chồng cất lấy mà ăn” rồi lại ăn có kham nổi hay không kẻo “ăn vào dạ như vạ vào thân” hoặc “ăn đã vậy đứng dậy làm sao”?.

Người ta “ăn thanh ăn cảnh” có người lại “ăn rảnh bụng ra”, cốt sao ăn cào, ăn gỡ “ăn thùng bất chí thình”, ăn như “hùm đổ đó” tưởng cả đời chưa có bữa bao giờ hoặc theo thói “ăn mày quen ngõ” rồi “đói ăn vụng túng làm liều” thì liệu còn có ai tôn trọng? ở đời phải biết “ăn cây nào rào cây ấy”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ăn cơm nhớ kẻ đâm xay giần sàng” là nếp nghĩ truyền thống của dân tộc ta. Ăn trộm, ăn cướp, ăn quỵt, ăn lường hoặc cậy quyền thế mà ăn đút, ăn lót, ăn hà ăn hiếp thì tránh sao khỏi “đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Mới hay học để mà ăn thì đâu có dễ.

Sinh thời Bác Hồ của chúng ta, sau khi giành được độc lập cho nước nhà,  nỗi lo cho dân đầu tiên llà giệt giặc đói và Người chỉ có “một ham muốn, ham muốn tột bậc là đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành...”.

“Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay...”, tưng bừng đón Tết mừng Xuân trong cảnh no đủ, phong lưu, chắc không ai quên sau Tết ất Dậu 62 năm về trước, cả dân tộc chìm trong cơ cực bần hàn, trên hai triệu người dân chết đói! Tết này mặc dù ta đã giàu có hơn ngàn lần năm xưa, song cũng còn bao người tàn tật, cô đơn, bao nhiêu trẻ em lang thang, cơ nhỡ, bao nhiêu người già yếu, hoạn nạn nên chưa thoát được cảnh đói nghèo. Đặc biệt, suốt thời gian qua, hết bão rồi lũ lụt triền miên, vất vả trăm bề sao có được cái Tết phong lưu? Mong hoạn nạn sớm qua, niềm vui mau tới, cả nước cùng sẻ chia khi Tết đến, Xuân về.

                                                                                                                                                                           Lê Hữu Chư