Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi

16:54, 21/11/2019

Ngày 20.11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), với tỉ lệ 90,06% số ĐBQH tham dự tán thành.

Theo đó, về quy định mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm tối đa, Bộ luật Lao động (sửa đổi) giữ nguyên như quy định hiện hành, nhưng ghi rõ thời gian làm thêm giờ theo tháng là 40 giờ/tháng thay vì 30 giờ/tháng và bổ sung quy định cụ thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Bên cạnh đó, Điều 107 Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định, thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây: phải được sự đồng ý của người lao động; bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 40 giờ trong 1 tháng; bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này. 

Các đại biểu ấn nút thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi.
Các đại biểu ấn nút thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi.

Điều 107 Bộ luật Lao động (sửa đổi) cũng quy định, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm đối với một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau: sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời; trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn, do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước do hậu quả thời tiết, thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất; trường hợp khác do Chính phủ quy định.

Về tuổi nghỉ hưu, Điều 169 Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

Bộ luật Lao động (sửa đổi) tăng thêm một ngày nghỉ lễ trong năm so với quy định hiện hành. Cụ thể, Khoản đ, Điều 112, Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định, ngày Quốc khánh, người lao động được nghỉ 2 ngày là ngày 2/9 dương lịch và 1 ngày liền kề trước hoặc sau.

Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 220 điều, sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021.

Điều 169 Bộ luật Lao động sửa đổi: Về tuổi nghỉ hưu

1. Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.

 2. Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

3. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

Theo: chinhphu.vn


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục

Lãnh đạo tỉnh làm việc với Công ty CP tiến bộ Quốc tế AIC

BHG - Chiều 20.11, tại Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo tỉnh ta có buổi làm việc với Công ty CP tiến bộ Quốc tế AIC, về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử, giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến 2025. Dự buổi làm việc có các đồng chí: Đặng Quốc Khánh, Ủy viên dự khuyết BCH T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa 14, đơn vị tỉnh Hà Giang; Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Vương Ngọc Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH khóa 14...

21/11/2019
Sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ là nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển

Thủ tướng nhấn mạnh điều này tại cuộc gặp mặt các lãnh đạo và đại biểu Quốc hội nữ vào chiều 20.11, tại trụ sở Chính phủ.

21/11/2019
Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia thảo luận tại tổ về một số dự án luật

BHG - Chiều 19.11, sau khi nghe các tờ trình, báo cáo thẩm tra, Quốc hội tiến thảo luận tại tổ về Dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp...

20/11/2019
Các trường học tổ chức kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11

BHG - * Chiều 19.11, Trường Chính trị tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 37 năm, Ngày Nhà giáo Việt Nam (20.11.1982 – 20.11.2019). Dự buổi lễ có đồng chí Sèn Chỉn Ly, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy – Hiệu trưởng nhà trường; lãnh đạo nhiều đơn vị, cơ quan; các đại biểu nguyên là lãnh đạo, giảng viên, viên chức, người lao động của nhà trường đã nghỉ hưu...

 

19/11/2019