Thứ tư, 01/10/2014

Tiếng Việt  l  English

Trang chủ
Chính trị
Xã hội
Kinh tế
Giáo dục
Du lịch
Thanh niên
Văn hoá
Pháp luật
Thể thao
Thế giới
Sức khoẻ
Khoa học
Tin học
Giải trí
Về Báo Hà Giang

Really Simple Syndication RSS

Tắt Telex VNI

(0989968559)

(02193) 861831

Đặt mặc định trang chủ
Liên hệ quảng cáo
Gửi toà soạn
Dinh dang Font tieng Viet

Tổng Biên tập :
Lê Trọng Lập

Liên kết Website

Lượt truy cập thứ:

62027859
Hôm nay: 17416 lượt

Tin đọc nhiều nhất

 

Thứ sáu, 22/07/2011 - 08:19" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Tuổi thơ yêu dấu
 

HGĐT- Mới sáu tuổi đầu mà Doan đã đòi mẹ cho đi theo làm ruộng hợp tác, tập nhổ mạ, tập cấy lúa, gặt lúa. Lớn lên một chút thì tập đi bừa, học đan soỏng, đan bung, đan sàng, học khâu vá quần áo, học thêu áo váy Dân tộc, học xay thóc, giã gạo, sàng gạo. Rồi còn học gói bánh chưng, làm bánh chuối, bánh mật trong ngày tết, ngày rằm.

Trẻ con nhà nông sao mà có nhiều việc cần phải học quá. Nhưng đám trẻ làng Khuôn Thao không ngại công việc gì, nhất là mấy chị em Doan. Mười hai tuổi mà cô bé đã đòi tập đi cày. Cái bắp cày to tướng, nặng trịch nhưng vẫn ì ạch vác ra ruộng. Được cái là đàn trâu của nhà rất thuần, con nào cũng biết kéo cày, chỉ cần đeo ách lên cổ trâu rồi giữ chắc tay cày là trâu tự bước đi đúng theo đường cày. Khi ấy làm ruộng hợp tác, công điểm của trẻ con chỉ bằng một nửa công điểm người lớn, dù có làm tốt bao nhiêu đi nữa. Dù vậy, bọn trẻ vẫn chăm chỉ đi làm. Cứ sau buổi học lại thi nhau ra đồng giúp bố mẹ thêm công điểm, giúp chăn trâu, lấy củi và làm tất cả mọi việc của nhà nông. Lao động nhiều nên bọn trẻ rất khoẻ và nhanh nhẹn. Dầm mưa dãi nắng nhưng chẳng có mấy đứa bị ốm. Thỉnh thoảng cũng có đứa bị sổ mũi hắt hơi nhưng một hai ngày lại khoẻ bình thường. Dịp sắp tết cả làng đều đi lấy củi. Trẻ con thi nhau vào rừng kiếm củi khô chất đầy đầu nhà. Những bó củi đều quá sức nhưng vẫn cố vác bằng được. Có lần nhìn thấy cháu gái vác bó củi to tướng, bà nội kêu lên:

- Trời ơi ! sao cháu và bà vác tham thế? Cẩn thận gẫy lưng đấy !

Doan đặt bó củi xuống, thở một lúc mới nói được với bà:

- Nhưng bà ơi, bọn cái Viện, thằng Nhất, thằng Hùng đều vác bó to như thế.

Bà bảo:

- Chúng nó khoẻ hơn cháu. Lần sau cháu không được vác bó to như thế nữa nhé !

Cô bé ngoan ngoãn:

- Vâng ạ !

Thế nhưng lúc cùng chúng bạn vào rừng lấy củi là tất cả lại quên lời bà dặn. Một lần, vác cây củi gộc to tướng về tới sân nhà, Doan quẳng mạnh xuống. Chẳng may có con chó con đứng ở đó, cây củi va mạnh vào đầu nó, nó kêu rú lên thảm thiết rồi lăn ra chết. Cô bé hốt hoảng tái xanh mặt mũi cứ đứng như trời trồng. Mẹ từ trong nhà chạy ra thấy vậy vội đỡ con chó lên nhưng nó đã tắt thở. Mẹ kêu lên:

- Trời ơi ! sao con lại ẩu đoảng thế ! cún con chết rồi đây này.

Doan ấp úng:

- Con ... con không để ý.

Hôm đó, Doan không ăn cơm tối vì sợ quá. Ông bà và bố mẹ không chửi mắng gì cả nhưng tiếng kêu thảm thiết của con chó nhỏ cứ ám ảnh hoài. Từ đó, cô bé không dám vác những bó củi quá sức như trước nữa.

Đối với bọn trẻ ở làng Dao Tiền Khuôn Thao, chăn trâu cũng là việc lớn. Nhà Doan có đến mười hai con trâu to và mấy con nghé. Cứ sau bữa trưa, mỗi nhà phải có người lùa trâu lên bãi cỏ rồi theo trông cả buổi, đến chiều tối lại lùa về chuồng. Đàn trâu nhà Doan có con trâu mộng to lớn, ở phía trên mông trái của nó nổi lên một cục tròn nên bố đặt tên nó là con Đụn. Con Đụn là con trâu đầu đàn rất khoẻ và tinh khôn. Những cây cột to hay cây xà dài nó vẫn kéo băng băng. Khi kéo đến đoạn đường dốc, cây gỗ lao rầm rầm theo sau nhưng nó tránh rất tài, không bao giờ bị cây lao vào chân cả. Chăn trâu rất vất vả nhưng cũng là thời gian bọn trẻ được chạy nhảy vui chơi thoải mái. Cứ lùa trâu lên bãi là tất cả lại tụ tập tranh thủ chơi những trò chơi của trẻ con. Hết chơi trốn tìm, chơi khăng lại thi trèo cây, chơi trận giả... Chơi chán lại nhặt củi nhóm lửa rồi nhổ sắn lên nướng ăn. Những nương sắn bạt ngàn bên cạnh bãi thả trâu có thểnhổ lên lấy củ nướng ăn thoải mái, chẳng lo chủ nhà chửi mắng bao giờ cả. Có đứa còn đem theo gạo nếp vo qua nước, cho vào ống nứa non, nút chặt lại rồi đốt lên đống lửa để làm cơm lam. Thích nhất là việc thi nhau đi hái các loại quả rừng. Trong rừng Khuôn Thao, các loại quả rừng chín thật nhiều, mùa nào thức ấy, loại nào cũng thật ngon. Nào quả vú bò, quả ngoã,quả bứa, sa nhân, quả chuối rừng... Tất cả thi nhau tìm hái về, rửa sạch rồi tập trung lại một chỗ cùng ăn thật vui vẻ. Những buổi chiều chăn trâu, Doan thường mang theo sách vở để học bài và mang theo cả những quyển truyện để tranh thủ đọc. Thật may mắn cho cô bé là gia đình có một người chú họ cũng rất mê đọc sách nên chú ấy đã muavà mượn được nhiều sách hay mang về nhà. Cứ thấy chú đọc quyển nào là Doan hỏi mượn quyển đó rồi ngấu nghiến đọc cho bằng hết. Lúc nào có chút thời gian là dán mắt vào những quyển hoạ báo Liên Xô, hoạ báo Trung Quốc mà chú mượn mang về. Có lẽ thích nhất là truyện tranh "Hãy đợi đấy" trong hoạ báo của liên Xô. Chú thỏ thông minh thường khiến lão sói bị hố là những tình tiết gây cười không bao giờ nhàm chán. Cả các tập tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc như Đông Chu liệt quốc, Thủy hử, Hồng Lâu mộng, Tam quốc diễn nghĩa.... và những quyển sách khác dày cộp, gáy đã sờn rách đều được Doan đọc ngấu nghiến đến tận trang cuối cùng. Thậm chí cô bé còn đọc cả Trường ca Tây Nguyên bằng sự tò mò, lạ lẫm, có nhiều điều chưa hiểu hết được trong các bản trường ca bất hủ của các tộc người Tây Nguyên như: Trường ca Đam Bơ Ri, Trường ca Đăm San, Trường ca Xin Nhã. Doan từng tiếc phát khóc lên khi quyển truyện tranh Tây du ký bị mất không tìm lại được. Đi đến nhà ai chơi, cũng luôn hỏi mượn sách để đọc. Doan cũng không hiểu tại sao mình lại thích đọc sách đến thế. Những chuyện viết về nước Nga, cách mạng tháng Mười Nga và cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô như Chiến tranh và hoà bình, người mẹ, Cánh chim báo bão, Thép đã tôi thế đấy, Hậu phương bao la, Pháo đài thành Brét, Đến bờ bến mới, Số phận con người, người thầy đầu tiên, Sông Đông êm đềm... đều được đọc kỹ từ đầu đến cuối. Tác phẩm Thép đã tôi thế đấycó lẽ là chuyện khiến Doan nhớ nhất. Cô bé có thể thuộc từng câu nói của nhân vật Pa ven Coóc - sơ - ghin, nhớ được mọi tình tiết của chuyện. Trong suy nghĩ non nớt của một đứa trẻ, thực sự Doan không thể hiểu được vì sao con người lại có được nghị lực tinh thần lớn lao đến như thế để chiến thắng được mọi hoàn cảnh dù là nghiệt ngã vô cùng. Những câu chuyện viết về cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến chống Mỹ của Dân tộc ta, cứ mượn được là Doan đọc tất. Ấn tượng sâu sắc nhất là khi đọc những tác phẩm viết về các anh hùng, liệt sĩ đã chiến đấu, hy sinh trog các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ như: Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội, Đất nước đứng lên, Người mẹ cầm súng, Mẫn và tôi, Đất Quảng, Dấu chân người lính, Ghềnh và sóng, Hòn đất, Một chuyện chép ở bệnh viện, Rừng xà Nu, Mở rừng. v.v.... Doan cũng không nhớ hết là mình đã đọc bao nhiêu quyển sách, chắc là hơn trăm quyển gì đó. Mỗi khi được đi ra phố huyện, xin mẹ được đồng nào là lại sà vào hiệu sách mua sách để đọc. Nhiều quyển sách rất hay, rất dày nhưng nhiều tiền quá không đủ tiền mua nên chỉ còn cách là mượn giở xem qua tại hiệu sách. Khi tác phẩm X30 phá lưới mới xuất bản, Doan phải lùng tìm khắp nơi mới mượn được một quyển đã qua rất nhiều người đọc. Khi mượn được rồi thì nhận thêm điều kiện ngay ngày hôm sau phải trả. Vì thế mà phải ngấu nghiến đọc trong lúc đi ngủ, đến nửa đêm thì xong. Mất ngủ một chút nhưng chuyện hay quá không còn biết mệt là gì nữa. Doan đã từng đọc truyện trinh thám Chiếc khuy đồng cả dưới ánh trăng đêm rằm mà không nghĩ đến hậu quả với đôi mắt quý giá của mình. Những tấm gương về các anh hùng thời xưa hay thời nay đều có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thế hệ trẻ. Rất nhiều lần cô bé vừa đọc vừa khóc thổn thức, thậm chí phải dừng đọc để lau nước mắt vì thương và cảm phục những nhân vật anh hùng trong truyện. Những trang sách đã mở ra trước mắt Doan một thế giới bao la rộng lớn, choáng ngợp, lạ lẫm. Thế giới ấy vượt ra khỏi khuôn khổ làng quê Dao Tiền nhỏ bé thân thương của đám trẻ làng Khuôn Thao. Doan cứ đọc xong một chuyện là kể lại cho các bạn cùng nghe rồi cùng bàn luận rất sôi nổi về các nhân vật anh hùng. Bọn trẻ trong làng không có mấy đứa chịu đọc sách nhưng lại rất thích nghe cô bé kể lại cho nghe những chuyện đã đọc. Thậm chí có lúc chúng còn xúm lại bắt Doan đọc cho tất cả cùng nghe nữa. Có những hôm, mải đọc truyện, ngẩng đầu lên nhìn chẳng thấy con trâu nào cả, lại hoảng hốt bỏ sách đi tìm. Xung quanh bãi cỏ là rừng giang, rừng nứa, rừng cọ rậm rạp um tùm. Trâu mà lủi vào đó thì thật khó mà tìm ra. Có khi trời đã gần tốimà vẫn chưa tìm thấy, lại phải chạy về nhà bảo mẹ đi tìm giúp. Tìm thấy trâu rồi, Doan tức khí lấy roi vút vào mông con Đụn, nó sợ quá, chạy lồng lên. Cả đàn chạy rầm rập xuống dốc. Lùa đàn trâu về đến chuồng thì cả làng đã lên đèn. Mẹ soi đèn cho cô bé buộc trâu, đốt đống hun muỗi, đóng dóng chuồng cẩn thận rồi mới về nhà. Thỉnh thoảng, có những ngày xảy ra chuyện trâu húc nhau thì thật đáng sợ, nhất là vào mùa thu hoạch xong. Những con trâu đực giương cặp sừng nghênh ngang đi tìm đối thủ. Đến lúc nhìn thấy đối thủ là lao vào húc nhau bạt tử. Những lúc ấy, bọn trẻ chỉ còn cách chạy dạt ra xa rồi đi tìm người lớn đến giúp. Có người vác theo những chiếc thang dài đểlách vào giữa hai con trâu, có người mang theo bó rơm to để đốt ngay chỗ hai con trâu đang húc nhau, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Có nhiều con trâu hăng máu, húc nhau đến lúc kiệt sức mà quỵ xuống vẫn không chịu lùi bước. Thậm chí có những con húc nhau đến khi bị gẫy cả sừng, bị thủng cả da cỏ hoặc gáy, máu chảy ra lênh láng mới chịu bỏ chạy. Vào những ngày trên cánh đồng làng xảy ra những trận ngưu chiến thì cả làng như có hoả hoạn hay giặc giã vậy. Khói lửa bốc lên nghi ngút, tiếng chân người chạy huỳnh huỵch, tiếng người hô hoán, tiếnggõ mõ vang động cả một vùng. Đến lúc dẹp yên được trận chiến hoặc một con bị thua hay bị hạ gục thì mọi người mới hoàn hồn. Sau này, người làng Khuôn Thao phải mời những người biết hoạn trâu bò đến hoạn bớt đám trâu cà thì mới tạm yên. Vì thế, việc chăn trâu không phải là chuyện chơi, trước khi thả trâu lên bãi, người lớn thường hay phải dặn dò bọn trẻ thậtkỹ càng. Sau buổi chăn trâu, đến lúc trời tối mịt, bọntrẻ mới về tới nhà. Đến lúc này dù đã mệt nhoài nhưng chưa được nghỉ ngơi. Mọi người lại giúp nhau làm việc nhà. Chị em Doan chia nhau làm mọi việc, người say thóc giã gạo, người cho lợn ăn, cơm canh thì bà nội đã nấu chín. Khoảng tám rưỡi, chín giờ tối mới được ăn. ăn cơm xong lại dọn dẹp, rửa bát đũa, sau đó mới được học bài. Mới ngồi vào bàn học, mắt đã díp lại. Có tối, ngồi viết bài văn để nộp vào hôm sau, Doan phải đứng dậy rửa mặt mấy lần vì buồn ngủ quá. Vậy mà nhiều đêm cô bé vẫn lén đọc truyện trên giường. Sau khi buông màn, đặt vào đầu giường cái đèn dầu đã được che kín bằng cái chụp giấy, chỉ có một khe hở cho ánh sáng dọi vào trang sách là bắt đầu nằm đọc những quyển sách dày cộp. Mải mê đọc, có đêm ngủ quên, đánh đổ đèn xuốngchiếu, lửa cháy nóng rát mặt mới tỉnh dậy, mới dập lửa kịp. Chỉ mới bị cháy một quầng nhỏ chiếu cói. Nhưng Doan cũng được một phen hú vía, không dám cho đèn vào giường đọc sách nữa. Mẹ thường ca cẩm:

- Không hiểu con bé này làm sao mà thích đọc sách thế?

Doan bảo mẹ:

- Sách có nhiều chuyện hay lắm mẹ ạ ! Mẹ thử đọc xem.

Mẹ bảo:

- Mẹ đọc sách lúc nào được? Mà cũng lâu lắm rồi mẹ có nhìn đến sách vở gì đâu?

Mẹ Doan mới học đến lớp bốn bình dân học vụ nhưng cũng tham gia công tác phụ nữ xã, đại biểu Hội đồng nhân dân xã nhiều khoá. Có những hôm trời mưa, mẹ vẫn phải cõng em đi học, thật vất vả.

Hình như cả làng Khuôn Thao đều coi gia đình Doan là một gia đình hạnh phúc. Dù có đến ba thế hệ cùng chung sống và có tới mười ba người gồm ông bà, bố mẹ và các anh chị em Doan nhưng không bao giờ thấy ai to tiến hay cãi cọ nhau bao giờ. Có lẽ do sự khéo léo, đức độ của ông bà và bố mẹ, nhất là bà nội và mẹ Doan. Bà và mẹ thường xuyên nhắc nhở, dạy dỗ con cháu mọi nơi mọi lúc. Dù đã già yếu nhưng ông bà vẫn giúp trông nom các cháu, nấu cơm, chăm rau, cho gà vịt ăn. Mẹ vừa nuôi dạy con cái, vừa lo việc đồng áng, vừa tham gia công tác xã hội. Bố lo mọi việc lớn trong nhà, làm y tá thôn, tham gia Ban quản trị hợp tác xã. Nhiều đêm, trời sấm chớp đùng đùng, mưa to gió lớn, bố vẫn phải đội mưa đi khám chữa bệnh cho những người bị ốm nặng hay làm ông đỡ giúp mọi người trong làng. Dù mới chỉ là y tá nhưng bố Doan rất giỏi, bố chữa bệnh theo tây y và cả đông y nữa. Ngoài việc tiêm, phát thuốc uống cho người ốm, bố còn dùng ngải cứu đốt để trị đau nhức cho mọi người. Có nhiều cô, bác sinh nở khó hay đẻ ngược mà bố vẫn đỡ được mẹ tròn con vuông tại nhà. Một lần, có bàcụ bị bệnh yết hầu, trong cổ họng cỏ bọng nước xưng lên rất nhanh khiến cụ không còn nuốt được, không thở được nữa. Khi được mời tới bố đã chặt ngay một đoạn cuống lá dọc mùng thọc vào cổ họng của bà cụ. Bọng nước trong yết hầu vỡ ra. May mắn là chỉ vài giây sau đấy bà đã thở được và dần dần hồi lại. Nhiều lần bệnh viện huyện đã mời bố đi báo cáo kinh nghiệm tại các hội nghị lớn. Khi tiêm thuốc cho người ốm, bố thường chỉ bảo cho các con thuốc nào thì được tiêm bắp, thuốc nào thì được tiêm ven. Trước khi tiêm thuốc kháng sinh phải thử phản ứng như thế nào? Nếu bị cảm cúm thì dùng những thuốc thông thường ra sao?.... Bố luôn mong muốn trong những đứa con của mình phải có một đứa theo nghề y để chữa bệnh cho người nhà và làng xóm. Một hôm, bác cả bị ốm, chị em Doan đang chăm chú xem bố tiêm thuốc cho bác thì bố bảo:

- Bác ạ ! Bọn trẻ nhà em con bé Doan có thể theo nghề của em được đấy !

Vậy là bố đã hy vọng sau này đứa con gái bé nhỏ, nghịch ngợm của bố có thể làm thầy thuốc được. Mọi việc trong nhà đều được bố phân công rõ ràng. Ngoài giờ học, anh chị em Doan mỗi người một việc, nhỏ làm việc nhỏ, lớn làm việc lớn, không ai tị nạnh ai việc gì cả. Bố mẹ còn chú ý rèn cả cách phát âm tiếng phổ thông cho các con. Vì vậy khi đi học, cả nhà đều nói tiếng phổ thông rất chuẩn. Doan thường được các thầy giáo, cô giáo dạy môn tiếng Việt cho đọc bài mẫu ở lớp, mặc dù bản thân cũng chưa thật tự tin cho lắm.

Bố mẹ Doan đều là những người nhanh nhẹn tháo vát và có biệt tài bắt cá rất giỏi. Chỉ cần đem vợt ra suối một lúc là cả nhà đã có một bữa cá tươi. Bọn trẻ cũng rất hay ra suối để xúc cá. Con suối chảy qua giữa làng, nước trong vắt, có rất nhiều cá mương, cá cơm, cá chép, cá rô và nhiều cá bống nhỏ, loại cá bống chỉ bằng ngón tay đem rán hoặc kho đều ăn rất ngon. Lúc còn bé tí, có lần Doan theo chịgái cả mang rổ ra suối xúc cá. Sau một lúc bắt chước người lớn đặt rổ xuống bờ suối rồi dẫm chân vào những búi cỏ ven bờ, chỉ bắt được vài con tép nhỏ thì bỗng cô bé thấychỗ mép bàn chân đang bị sước nhói đau. Hốt hoảng chạy lên bờ, nhìn xuống chỗ chân bị đau thấy có đến hai con đỉa trâu đang bâu vào đó, cô bé kêu váng lên:

- Chị ơi ! Đỉa cắn em !

Chị gái nhìn thấy thế vừa chạy đến dùng tay giật từng con ném lên bờ vừag doạ:

- Đỉa đẻ trứng vào trong đó thì chết!

Hoảng quá, cô bé khóc ầm lên, vừa khóc vừa mếu máo:

- Em sợ đỉa đẻ trứng ! Sợ đỉa dẻ trứng lắm... chị...ơi !

Thấy cô bé tái mét cả mặt, chị gái mới bảo:

- Chị nói đùa thôi! đỉa không biết đẻ trứng đâu !

Doan vẫn mếu máo:

- Có thật không chị?

Chị bảo cô bé xem lại chỗ đỉa cắn rồi bảo:

- Đấy em xem có gì nữa đâu ! Đừng khóc nữa ! Bây giờ em đứng trên bờ xem chị xúc thôi nhé !

Cô bé thôi khóc bảo chị:

- Vâng !

Rồi đi dọc bờ suối xem chị xúc và giúp chị xách giỏ đựng cá.

Mùa mưa, nước lũ chảy ào ào từ các khe núi đổ vào con suối, nước suối dâng cao, đục ngầu. Nhiều đoạn suối chảy ngang đường, nước cuồn cuộn chảy, muốn qua được những đoạn đường đó chỉ còn cách bám theo những ống dẫn nước bằng nứa, bằng thân cọ bắc ngang dòng suối mà bò sang. Lúc đó, ngay phía dưới ống máng là dòng nước đục ngầu, gầm réo, vì thế những người yếu bóng vía chẳng bao giờ dám vượt suối vào lúc nước lũ quá to như vậy. Lúc trời mưa to, nước lũ dâng lên rất nhanh, nhưng mưa vừa ngớt, chỉ một lúc sau nước lại rút xuống, dòng suối lại trở nên hiền hoà, chỉ còn lại những rác rưởi, rong rêu bám vào bờ cỏ và những bãi cát mới bồi. Sau trận lũ, nước suối lại trong vắt. Mỗi buổi chiều tà, bọn trẻ lại ào xuống suối tắm. Bến nước đầu làng có hai cây sổ rất to mọc đối nhau hai bên bờ suối, ngọn cây ngả vào nhau. Đám trẻ trong làng thường trèo lên đó rồi nhảy ùm xuống nước, chơi trò giấu quả sổ xuống dưới đáy rồi thách đố nhau lặn xuống tìm. Sau một hồi lặn xuống đáy nước, mở mắt tìm khắp ngõ ngách, mắt đứa nào đứa nấy cay xè nhưng chẳng ai chịu thôi cả. Cũng có lúc bị đỉa cắn chảy máu nhưng chẳng đứa nào sợ, cứ cầm chắc con đỉa, giật mạnh ra, ném lên bờ rồi lại lặn hụp thoả thuê. Dọc theo con suối có thể súc tép, bắt cá, nhặt ốc và hái rau dớn hai bên bờ, thậm chí còn nhặt được cả trứng vịt đẻ lang nữa cơ. Làng Khuôn Thao nuôi rất nhiều vịt bầu, có nhà thả vịt sớm quá, vịt chưa kịp đẻ trứng trong chuồng, chúng đến đẻ ở những bụi rậm bên bờ suối rồi thành quen. Có hôm, bọn trẻ nhặt được cả chục quả trứng, thích thú vô cùng.

Tuổi thơ của đám trẻ làng Khuôn Thao gắn với cây sấu cổ thụ đầu làng. Không biết cây sấu mọc từ bao giờ, chỉ biết cây rất to, có nhiều bạnh ở gốc, không ai có thể trèo lên được. Mùa sấu chín, mọi người phải chờ quả chín rụng mới được ăn. Hôm nào trời nổi gió, tiếng bọn trẻ gọi nhau í ới lại vang lên khắp làng. Loáng cái, tất cả đã có mặt dưới gốc sấu. Mỗi cơn gió thổi mạnh, quả sấu chín rụng xuống lộp độp. Tất cả cùng mải mê nhặt sấu, chẳng đứa nào kịp để ý, có đứa bị quả rơi trúng vào đầu giật mình kêu váng lên. Ngớt gió, giỏ đứa nào đứa nấy đầy ăm ắp những quả sấu chín vàng. Có đứa xách giỏ chạy ngay về nhà, có nhiều đứa ngồi luôn dưới gốc cây dùng dao nhíp bóc quả ăn, vừa ăn vừa chuyện trò rôm rả. Vì thế, từ khi sấu ra hoa, đậu quả là đám trẻ làng Khuôn Thao đã mong ngóng từng ngày cho đến mùa sấu chín để được thưởng thức vị ngọt ngon của những quả sấu chín vàng. Sát cạnh cây sấu cổ thụ là vườn ổi phía sau nhà Doan. Vào mùa tháng bẩy âm lịch, ổi chín rụng đầy gốc. Buổi trưa, lũ trẻ lại rủ nhau trèo lên những cây ổi lòng đào hái quả ăn. Mỗi đứa một cành ổi ngồi vắt vẻo, vừa ăn quả vừa nói chuyện. Có đứa mải mê hái quả, không cẩn thận đã trượt chân nhảy dù xuống đất nhưng may mắn không bị làm sao cả. Trưa hè, trời nắng chang chang, chẳng đứa nào chịu đội mũ nón nên mặt mũi cứ nâu giòn, tóc thì đỏ quạch, quần áo khét mùi nắng gió.

Làng Khuôn Thao ở bên những cánh rừng già. Đêm đêm tiếng nai tác văng vẳng, tiếng chim tham cang, púng táng kêu não nùng. Có đêm còn nghe thấy cả tiếng hổ gầm, những đàn trâu trong chuồng sợ hãi kéo đứt cả sẹo mũi. Sáng ra, đến chỗ đầu khe nước, thấy vết chân hổ to bằng miệng cái bát ăn cơm. Bọn trẻ sợ xanh mắt mèo. Mỗi buổi sáng, tiếng gà rừng gáy lanh lảnh hoà cùng tiếng gà nhà chào bình minh đến. Ở trong làng, bếp các nhà đã nổi lửa, khói lam bay lên quyện vào sương sớm. Người lớn gọi trẻ con dậy ăn sáng rồi đihọc và mọi người chuẩn bị ra đồng, lên nương. Nhịp sống yên bình ở Khuôn Thao mỗi ngày đều bắt đầu như thế./.

Truyện ngắn: Bàn Thị Ba

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Trụ sở tòa soạn : số 5, đường Nguyễn Huệ, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang
Giấy phép xuất bản số: 27/GP-BC ngày 29 tháng 01 năm 2007
Điện thoại : (02193) 861831 -
3866589 ; Fax : (02193) 868960
Email :
baohagiang@gmail.com
: Website : http://www.baohagiang.vn